- Tranh chấp gì? "Chu Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn T;
- Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P Q TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 46/2020/QĐ -TA | PQ, ngày 18 tháng 5 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P Q, TỈNH KIÊN GIANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên họp: Ông Lâm Thanh Điền
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Hồng Hà
Ngày 18 tháng 5 năm 2020, tại Cơ sở Cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang, địa chỉ: ấp Kiên Hảo, xã Mỹ Hiệp Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Tòa án nhân dân huyện PQ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 40/QĐ-TA ngày 12 tháng 5 năm 2020, đối với:
Họ và tên: Chu Văn T, Sinh năm: 1992
Số CMND: 3******9, cấp ngày: 05/4/2018; Nơi cấp: Công an tỉnh Kiên Giang
Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 7/12
Nguyên quán: B Đ
Nơi ĐKTT: ấp B N, xã A S, huyện K H, tỉnh Kiên Giang
Chổ ở: Không nơi cư trú nhất định
Nghề nghiệp: ngư phủ
Con ông: Chu Văn K và bà Nguyễn Thị B
Đương sự có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Kim Cư – Trưởng Phòng Lao động–Thương binh và xã hội huyện PQ
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PQ: Ông Lê Minh Dũng – Kiểm sát viên
NHẬN THẤY
Ngày 21/3/2020 Công an thị trấn AT tiến hành mời Chu Văn T về làm việc thì được đương sự khai nhận: vào khoảng 20 giờ ngày 19/3/2020, T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng với một người bạn tên Quốc tại khu phố 6, thị trấn AT, huyện PQ, hình thức sử dụng là đốt hít vào cơ thể. Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 21/3/2020 của trạm y tế thị trấn AT, kết luận đương sự Chu Văn T dương tính với ma túy.
Tại Thông báo số 371/TB-CSCNMT ngày 27/3/2020 của Cơ sở Cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang xác định đương Chu Văn T có sử dụng ma túy dạng Methamphetamine. Điều này phù hợp với lời khai nhận của T trong bản tường trình ngày 21/3/2020 cũng như lời khai của đương sự tại phiên họp hôm nay.
Ngày 05/5/2020 phòng Lao động–Thương binh và Xã hội huyện PQ có văn bản số 56/LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân huyện PQ xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn T và tại phiên họp vẫn giữ nguyên đề nghị trên.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PQ phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý hồ sơ, quá trình giải quyết và tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với hồ sơ của Chu Văn T thì Thẩm phán đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Qua đề nghị của phòng Lao động–Thương binh và Xã hội huyện PQ tại phiên họp thấy đủ căn cứ đưa đương sự vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, do đó đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu đề nghị của phòng Lao động–Thương binh và Xã hội huyện PQ.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp. Sau khi nghe đại diện phòng Lao động–Thương binh và Xã hội huyện PQ phát biểu đề nghị đưa đối tượng Chu Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trên cơ sở ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận. Đồng thời, tại phiên họp đối tượng thừa nhận có sử dụng ma túy đá từ tháng 4/2019 đến nay, sử dụng rất nhiều lần, lần sử dụng ma túy đá gần nhất là vào ngày 19/3/2020. Tại phiên họp hôm nay Chu Văn T đồng ý tự nguyện ở lại Cơ sở để điều trị chấm dứt việc sử dụng chất ma túy để sớm trở về hòa nhập cộng đồng, Tòa án nhân dân huyện PQ nhận định:
Về trình tự thủ tục: Cơ quan đề nghị đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 95, Điều 96; điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Nghị định 221/2013/NĐ – CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, đề nghị của đại diện phòng Lao động–Thương binh và Xã hội huyện PQ cũng như lời trình bày của đương sự tại phiên họp xét thấy có đủ cơ sở để xác định Chu Văn T nghiện ma túy, loại Methamphetamin và đương sự không tham gia bất cứ chương trình cai nghiện nào tại cộng đồng.
Qua xác minh nơi ở của Chu Văn T thì không có nơi cư trú ổn định, theo hồ sơ ghi nhận đương sự đăng ký hộ khẩu tại ấp B N, xã A S, huyện K H, tỉnh Kiên Giang, nhưng không còn ở địa chỉ trên và chuyển đến PQ sinh sống từ năm 2010. Năm 2015 phạm tội cố ý gây thương tích, năm 2018 chấp hành án xong trở về sinh sống tiếp tục tại nhà trọ của ông Trần Văn H thuộc khu phố A, thị trấn AT, huyện PQ cho đến nay. Trong thời gian sinh sống tại đây T không đăng ký tạm trú cũng như khai báo với chính quyền địa phương.
Xét đề nghị của phòng Lao động–Thương binh và Xã hội huyện PQ và quan điểm chấp nhận yêu cầu của Viện kiểm sát là có căn cứ. Đồng thời xét hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Chu Văn T là nguy hiểm cho xã hội cũng như đối với bản thân người sử dụng. Ma túy làm suy thoái đạo đức, ảnh hưởng đến sức khỏe, trí tuệ thể chất của con người là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T một thời gian là cần thiết để đối tượng có thể cai nghiện, phục hồi sức khỏe, tái hòa nhập cộng đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn T;
2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày 22/3/2020 ngày mà người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị áp dụng có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện PQ có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động - Thương binh & xã hội huyện PQ; Cơ sở Cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang; Công an huyện PQ; cơ quan, tổ chức có liên quan và đương sự Chu Văn T có trách nhiệm thi hành quyết định này./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện PQ; - Công an huyện PQ; - Phòng LĐ & TBXH huyện PQ; - CSCNMTĐCN tỉnh Kiên Giang; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Lâm Thanh Điền |