vanban.org

Quyết định 455/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/09/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật Thi hành án dân sự;

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố ông Lê Q, sinh năm: 1978 có nơi cư trú cuối cùng tại số Đường A, Phường B, Quận C, TP.HCM mất tích. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Luật Thi hành án dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 455/2018/QĐDS-ST
Ngày: 05/9/2018
V/v: :“Yêu cầu tuyên bố một
người mất tích”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Bà Đinh Thị Hoài Thu - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Ông Trần Minh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Kim Oanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1 mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 67/2018/DSST ngày 07 tháng 3 năm 2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 4187/2018/QĐ- MPH ngày 21 tháng 8 năm 2018.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần T, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Đường A, Phường B, Quận C, TP.HCM.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê P, sinh năm 1953

Địa chỉ: Đường E, Phường D, Quận F, TP.HCM

- Bà Tăng S, sinh năm 1957

Địa chỉ: Đường G, Phường H, Quận K, TP.HCM.

- Trẻ Lê N, sinh ngày 21/4/2006

Địa chỉ: Đường A, Phường B, Quận C, TP.HCM.

Người giám hộ theo pháp luật: Bà Trần T, sinh năm 1986 là mẹ ruột.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với ông Lê Q, sinh năm: 1978 có nơi cư trú cuối cùng tại số Đường A, Phường B, Quận C, TP.HCM.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 1 nhận định: 1.Về thẩm quyền giải quyết của Toà án: Bà Trần T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 1 tuyên bố chồng của bà là ông Lê Q, sinh năm: 1978 có nơi cư trú cuối cùng tại số Đường A, Phường B, Quận C, TP.HCM mất tích. Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1. Vì lý do bận công việc nên người yêu cầu là bà Trần T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Lê P và bà Tăng S có đơn yêu cầu vắng mặt tại phiên họp. Xét đây là sự tự nguyện, không trái pháp luật, căn cứ khoản 2, Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự. 2.Về yêu cầu của đương sự: Bà Trần T trình bày: Ông Lê Q có cha là ông Lê P, sinh năm 1953 và mẹ là bà Tăng S, sinh năm 1957. Năm 2006, Bà T và ông Lê Q kết hôn và chung sống với nhau tại địa chỉ Đường A, Phường B, Quận C, TP.HCM, có một con chung tên Lê N, sinh năm 2006. Đến năm 2012, ông Q bán nhà và bỏ đi cho đến nay không có tin tức gì, cũng không trở về địa phương thăm con. Nay, bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Q mất tích. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê P đồng ý với yêu cầu của bà T, yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Q mất tích. Bà Tăng S trình bày: Năm 2011 ông Lê Q có nói với bà Sương là ông Q đi làm ăn ở Indonexia, bà đề nghị Tòa án xác minh thông tin trên. Theo kết quả xác minh của Công an phường Cô Giang, Quận 1 thì ông Lê Q, sinh năm 1978 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ Đường A, Phường B, Quận C, TP.HCM nhưng từ năm 2012 đã bán nhà đi khỏi địa phương cho đến nay, đi đâu không rõ. Ngày 09/5/2018, Tòa án nhân dân quận 1 đã gửi Công văn số 2131/TAQ1 đề nghị Cục quản lý Xuất nhập cảnh – Bộ Công an cung cấp cho Tòa án thông tin xuất nhập cảnh của ông Lê Q. Ngày 14/5/2018, Cục quản lý xuất nhập cảnh có công văn số 1171/QLXNC-P3 trả lời như sau: “Lê Q, nam, sinh ngày 06/9/1978, thường trú tại 219/9 trần Hưng Đạo, phường Cô Giang, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh, được cấp hộ chiếu số xxxxxxxx ngày 16/01/2009. Đương sự đã xuất nhập cảnh 06 lần, lần nhập cảnh gần nhất ngày 23/3/2010, chưa có thông tin xuất cảnh”, do đó việc bà Sương khai năm 2011 ông Q đi làm ăn ở Indonexia là không có cơ sở. Ngày 16/4/2018, Tòa án nhân dân Quận 1 đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 1705/2018/QĐ-TBTK và Thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Lê Q, sinh năm 1978. Bà Trần T đã tiến hành thông báo tìm kiếm ông Q trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ thể: Đài Tiếng nói Việt Nam (Theo Hợp đồng thông tin số 93/TTHCM-HĐTT ngày 16/4/2018), Báo Lao Động (3 kỳ vào các ngày 18, 19, 20/4/2018). Nhưng đến nay vẫn không nhận được tin tức xác thực về việc ông Lê Q còn sống hay đã chết. Tại phiên họp hôm nay, bà Trần T có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Q mất tích.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 sau khi phân tích nội dung vụ việc, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Trần T, tuyên bố ông Lê Q, sinh năm 1978; Nơi cư trú cuối cùng tại số Đường A, Phường B, Quận C, TP.HCM mất tích.

3. Tòa án nhận thấy

Căn cứ lời trình bày của các đương sự, kết quả xác minh của Công an phường Cô Giang, Quận 1; Công văn trả lời của Cục quản lý Xuất nhập cảnh và các thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng nêu trên có cơ sở xác định Ông Lê Q, sinh năm 1978 trước đây có sinh sống và đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ Đường A, Phường B, Quận C, TP.HCM, từ năm 2012, ông Q bán nhà và bỏ đi khỏi địa phương đến nay không rõ tin tức.

Xét, Ông Lê Q bỏ nhà đi từ năm 2012 đến nay, là ông Q đã biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù bà T đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm trên phương tiện thông tin đại chúng mà không có tin tức xác thực về việc ông Q còn sống hay đã chết nên bà T yêu cầu tuyên bố ông Q mất tích là có cơ sở.

4. Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần T chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Khoản 3, Điều 27; điểm a, khoản 2, Điều 35; điểm b, khoản 2, Điều 39; Điều 149; Điều 361; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 68 Bộ luật Dân sự;

- Luật Thi hành án dân sự;

- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố ông Lê Q, sinh năm: 1978 có nơi cư trú cuối cùng tại số Đường A, Phường B, Quận C, TP.HCM mất tích.

2. Lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng do bà Trần T chịu, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2017/0022742 ngày 07 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần T đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ