vanban.org

Quyết định 45/2024/QĐ-TA

TAND huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre Tuyên án 11/12/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Minh S.

Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Minh S là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 25/11/2024. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Minh S"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Minh S.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG TRÔM
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 45/2024/QĐ-TAGiồng Trôm, ngày 11 tháng 12 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

Với thành phần phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Bà Phạm Minh Thơ

2. Thư ký phiên họp: Ông Lê Kiến Hòa

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 42/QĐ-TA ngày 04 tháng 12 năm 2024, đối với:

Người bị đề nghị: Nguyễn Minh S, sinh ngày: 06/9/1993

Tên gọi khác: N.

CCCD số: 083093002xxx, ngày cấp: 04/11/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Dân tộc: Kinh.

Giới tính: Nam.

Tôn giáo: Không.

Quốc tịch: Việt Nam.

Trình độ văn hóa: 8/12.

Nghề nghiệp: Làm thuê.

Nguyên quán: xã L, huyện G, tỉnh B.

Nơi cư trú: số A, ấp D, xã L, huyện G, tỉnh B. Hiện nay đang được quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre.

Tiền sự: Tại Quyết định số 02/2023/QĐ-TA ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 (mười lăm) tháng.

Cha: không xác định; mẹ là bà Nguyễn Thị X.

Tại phiên họp, anh Nguyễn Minh S có mặt.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Võ Văn Niêm - Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Đại diện theo ủy quyền của ông Võ Văn Niêm: Ông Phạm Quốc Toàn – Phó Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (Theo Giấy ủy quyền số 834/UQ-LĐTBXH ngày 06/12/2024 của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên họp: Bà Võ Thị Minh Trang - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu thu thập có trong hồ sơ và tại phiên họp thể hiện anh Nguyễn Minh S là người đủ 18 tuổi trở lên; có nơi cư trú ổn định tại số A, ấp D, xã L, huyện G, tỉnh B; đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:

Anh S đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 02/2023/QĐ-TA ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre với thời hạn là 15 (mười lăm) tháng. Đến ngày 12/02/2024, anh S chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Giấy chứng nhận số 33/CN-CSCNMT ngày 12/02/2024 của Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre.

Ngày 19/02/2024, Ủy ban nhân dân xã L, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 46/QĐ-UBND quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với anh S, thời hạn quản lý là 24 tháng, kể từ ngày 19/02/2024 đến ngày 19/02/2026. Tuy nhiên, đến ngày 21/11/2024, anh S tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Công an xã L, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đã ban hành Giấy đề nghị số 254/GĐN-CAX ngày 24/11/2024 gửi Trạm y tế xã L, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với anh S. Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 25/11/2024 của Trạm y tế xã L, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đã kết luận anh S nghiện ma tuý, tên loại ma túy sử dụng: ma túy tổng hợp (Methamphetamine).

Do đó, Ủy ban nhân dân xã L, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ngày 25/11/2024, sau đó ban hành Thông báo số 708/TB-UBND ngày 25/11/2024 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S và ban hành Đề nghị số 728/ĐN-UBND ngày 29/11/2024 đề nghị xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S. Trưởng Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ban hành Đề nghị số 795/ĐN-CNBB ngày 29/11/2024 đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S với thời hạn là 18 (mười tám) tháng.

Tại phiên họp:

Đại diện theo ủy quyền của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S với thời hạn là 18 (mười tám) tháng.

Người bị đề nghị là anh S thừa nhận đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 15 (mười lăm) tháng, sau đó được quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú từ ngày 19/02/2024 đến ngày 19/02/2026, nhưng đến ngày 21/11/2024 anh tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Anh không khiếu nại đối với các hành vi và quyết định của các cơ quan có thẩm quyền, đồng ý với đề nghị của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh với thời hạn là 18 (mười tám) tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên họp phát biểu quan điểm:

- Trong quá trình thụ lý, giải quyết hồ sơ, Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại các Điều 9, 10, 12, 18 và Điều 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

- Căn cứ các Điều 6, 95, 96, 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020); Điều 23 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; khoản 4 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy: Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên họp, thấy rằng đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đối với anh S là có cơ sở, việc đề nghị thời hạn cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng đối với anh S là phù hợp. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre chấp nhận đề nghị của Trưởng Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S với thời hạn là 18 (mười tám) tháng.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên họp, có đủ căn cứ xác định:

Anh S là người đủ 18 tuổi trở lên; có nơi cư trú ổn định tại số A, ấp D, xã L, huyện G, tỉnh B; đã bị áp dụng biện pháp xử hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 15 (mười lăm) tháng theo Quyết định số 02/2023/QĐ-TA ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, đến ngày 12/02/2024 thì chấp hành xong; sau đó, anh S được quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú từ ngày 19/02/2024 đến ngày 19/02/2026 theo Quyết định số 46/QĐ-UBND ngày 19/02/2024 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Tuy nhiên, trong thời hạn được quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú trên, anh S tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 21/11/2024. Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 25/11/2024 của Trạm y tế xã L, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đã kết luận anh S nghiện ma tuý, tên loại ma túy sử dụng: ma túy tổng hợp (Methamphetamine). Do đó, Ủy ban nhân dân xã L, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ngày 25/11/2024, sau đó ban hành Thông báo số 708/TB-UBND ngày 25/11/2024 lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S và ban hành Đề nghị số 728/ĐN-UBND ngày 29/11/2024 đề nghị xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S. Theo biên bản xác minh nhân thân đối với anh S ngày 25/11/2024 thì hiện tại anh S không có người thân là bố mẹ, vợ hoặc chồng, anh chị em ruột từ đủ 18 tuổi trở lên để quản lý anh S trong thời gian làm thủ tục, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên Ủy ban nhân dân xã L, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 379/QĐ-QLNN ngày 25/11/2024 giao anh S cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre quản lý. Trưởng Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ban hành Đề nghị số 795/ĐN-CNBB ngày 29/11/2024 đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S với thời hạn là 18 (mười tám) tháng.

Như vậy, anh S thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy và Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S được các cơ quan có thẩm quyền lập đúng và đầy đủ theo quy định tại các Điều 6, 95, 96, 103 và Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy, khoản 3 Điều 3 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Anh S là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng anh vẫn thực hiện. Hành vi của anh S không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của anh, ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của gia đình, mà còn làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S là cần thiết, nhằm giúp anh S cai nghiện để sớm trở thành người khỏe mạnh, sống tốt cho bản thân, có ích cho gia đình và xã hội.

Do đó, đề nghị của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S là có cơ sở nên được chấp nhận.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng: Anh S có tình tiết giảm nhẹ là đã tự nguyện khai báo theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Anh S đã bị áp dụng biện pháp xử hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 02/2023/QĐ-TA ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, đã chấp hành xong ngày 12/02/2024, tính đến ngày 21/11/2024 khi anh S sử dụng trái phép chất ma túy là chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính mà anh còn vi phạm nên thuộc trường hợp tái phạm là tính tiết tăng nặng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Các tình tiết trên sẽ được xem xét khi quyết định về thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S.

Về thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật xử phạt vi phạm hành chính quy định từ 12 (mười hai) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng. Với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đã phân tích ở trên, xét thấy thời gian cai nghiện bắt buộc đối với anh S là 18 (mười tám) tháng mà Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đề nghị là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Minh S.

2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Minh S là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 25/11/2024.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

Thời hạn khiếu nại của anh Nguyễn Minh S là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Thời hạn kiến nghị của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre và Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre có trách nhiệm thi hành Quyết định này. * Nơi nhận:

Cỡ chữ