- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Ông T yêu cầu TBMNMT đối với bà T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Lê Minh T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 45/2019/QĐST-DS | B, ngày 11 tháng 10 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B – TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoàng Phương
Thư ký phiên họp: ông Nguyễn Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: Bà Đoàn Thị Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 331/2019/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2019, theo quyết định mở phiên họp số 988/2019/QĐST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Lê Minh T, sinh năm 1982;
Trú tại: K3/312C, khu phố 1, phường BH, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Trần Văn Y, sinh năm 1956.
2/ Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1954
Cùng địa chỉ: 56/8/2A, khu phố 2, phường QT, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
3/ Cháu Lê Ngọc Bảo TR, sinh ngày 25/11/2008.
Địa chỉ: K3/312C, khu phố 1, phường BH, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của cháu TR: Ông Lê Minh T, sinh năm 1982;
Trú tại: K3/312C, khu phố 1, phường BH, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Ông T, ông Y, bà C và cháu TR có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Ông Lê Minh T và bà Trần Thị Cẩm CT là vợ chồng, có tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường BH, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 169 ngày 27/12/2007. Trong quá trình chung sống, ông T và bà CT có 01 con chung là cháu Lê Ngọc Bảo TR, sinh ngày 25/11/2008. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn gay gắt, dẫn đến tình cảm không còn. Từ tháng 02 năm 2017, bà CT đã bỏ nhà đi đến nay không về. Ông T đã tìm kiếm nhiều nơi, bằng nhiều biện pháp nhưng vẫn không có tin tức gì của bà CT.
Vì vậy, ông T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố B tuyên bố một người mất tích đối với bà Trần Thị Cẩm CT, sinh năm 1982; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 56/8/2A, khu phố 2, phường QT, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Ông T không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích là bà Trần Thị Cẩm CT.
Lý do, mục đích yêu cầu để ông T làm thủ tục ly hôn với bà CT.
Ông Trần Văn Y, bà Nguyễn Thị C và cháu Lê Ngọc Bảo TR trình bày: Thống nhất với ý kiến của ông Lê Minh T về việc yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố B tuyên bố một người mất tích đối với bà Trần Thị Cẩm CT, sinh năm 1982; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 56/8/2A, khu phố 2, phường QT, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đồng thời, không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích là bà Trần Thị Cẩm CT.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Ngày 18/4/2019, ông Lê Minh T, sinh năm 1982; Trú tại: K3/312C, khu phố 1, phường BH, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà Trần Thị Cẩm CT, sinh năm 1982; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 56/8/2A, khu phố 2, phường QT, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, việc dân sự trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B.
Ông Lê Minh T và bà Trần Thị Cẩm CT là vợ chồng, có tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường BH, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 169 ngày 27/12/2007. Trong quá trình chung sống, ông T và bà CT có 01 con chung là cháu Lê Ngọc Bảo TR, sinh ngày 25/11/2008. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn gay gắt, dẫn đến tình cảm không còn. Từ tháng 02 năm 2017, bà CT đã bỏ nhà đi đến nay không về. Ông T đã tìm kiếm nhiều nơi, bằng nhiều biện pháp nhưng vẫn không có tin tức gì của bà CT.
Cha mẹ của bà CT là ông Trần Văn Y, bà Nguyễn Thị C và cháu Lê Ngọc Bảo TR thống nhất với ý kiến của ông Lê Minh T và yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố B tuyên bố một người mất tích đối với bà Trần Thị Cẩm CT.
Ngày 22/5/2019, Tòa án nhân dân thành phố B đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Trần Thị Cẩm CT và đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án. Ông Lê Minh T đã đăng thông báo trên Báo Nhân dân trong ba số liên tiếp vào các ngày 01, 02 và 03/6/2019 và phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam ba lần trong ba ngày liên tiếp 10, 11 và 12/6/2019.
Tuy nhiên, đã hết thời hạn 04 tháng nhưng bà Trần Thị Cẩm CT không có liên hệ với Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai để giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Đồng thời, cũng không ai thông báo cho Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Ủy ban nhân dân phường QT hoặc ông Lê Minh T về tin tức của bà Trần Thị Cẩm CT.
Vì vậy, yêu cầu của ông Lê Minh T về việc tuyên bố một người mất tích đối với bà Trần Thị Cẩm CT, sinh năm 1982; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 56/8/2A, khu phố 2, phường QT, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 388 và 389 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Các đương sự không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích là bà Trần Thị Cẩm CT nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B: Việc dân sự giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Lê Minh T đối với bà Trần Thị Cẩm CT từ khi thụ lý đến phiên họp đều đảm bảo đúng quy định tại Điều 362, 363, 365, 387 Bộ luật tố tụng dân sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định.
Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ xác định: bà Trần Thị Cẩm CT, sinh năm 1982; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 56/8/2A, khu phố 2, phường QT, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đã biệt tích từ tháng 02 năm 2017 đến nay, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực bà CT còn sống hay đã chết. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 388 và 389 Bộ luật tố tụng Dân sự đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của ông T.
Các đương sự không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích là bà Trần Thị Cẩm CT nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Xét thấy, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu tại phiên họp phù hợp với nhận định nêu trên, nên chấp nhận.
Về lệ phí: Ông Lê Minh T phải nộp 300.000đồng;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 362, 363, 365, 387, 388 và 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Lê Minh T.
Tuyên bố bà Trần Thị Cẩm CT, sinh năm 1982; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 56/8/2A, khu phố 2, phường QT, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mất tích.
2. Về áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: không đặt ra xem xét, giải quyết.
3. Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Ông Lê Minh T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, theo biên lai thu số 0004876 ngày 03/5/2019.
4. Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND TP. B; - Chi cục THADS TP. B; - Người yêu cầu; Đương sự; - Lưu VT, Hồ sơ việc dân sự | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Hoàng Phương |