- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Anh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN HỚN QUẢN Độc lập- Tự do- Hạnh phúc TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 45/2018/HNGĐ-ST Ngày: 31- 7- 2018 Về việc: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"gồm"có:"""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Văn Hồng
2. Ông Nguyễn Chí Vương
-"Thư"ký"phiên"tòa: Ông Đỗ Đình Thuyên – Thư ký tòa án Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
-"Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"huyện"Hớn"Quản"tham"gia"phiên"tòa : Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 110/2018/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 03 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 20/06/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 25/2018/QĐ – HPT ngày 06/7/2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D – Sinh năm 1985.
Nơi cư trú: Tổ 01, ấp 10, xã T, huyện H, tỉnh B.
Bị đơn: Anh Nguyễn Anh Đ– Sinh năm 1985 .
Nơi cư trú: Tổ 01, ấp 10, xã T, huyện H, tỉnh B.
(Nguyên đơn vắng mặt có đơn vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 06/02/2018,bản tự khai ngày 01/03/2018,các biên bản hòa giải nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Anh Đ tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 08/04/2008 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Chánh Phú Hòa, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và hay cãi vả, anh Đ ham chơi, cá độ cờ bạc nên hay đe dọa tự tử, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017
1 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Nguyễn Thị D yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Anh Đ.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 10/09/2008, Nguyễn Anh T, sinh ngày 10/9/2012, vợ chồng không nhận ai làm con nuôi. Hiện tại chị D không mang thai. Khi ly hôn chị D yêu cầu nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
Về tài sản: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ lại vợ chồng.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh Nguyễn Anh Đ không đến Tòa án để làm việc nên không trình bày ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa phát biểu:
Việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản không có ý kiến gì thêm.
Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị D đối với anh Nguyễn Anh Đ. Về con chung giao 02 con chung cho chị Nguyễn Thị D nuôi dưỡng, anh Nguyễn Anh Đ không cấp dưỡng nuôi 02 con chung, về tài sản chung đương sự không yêu cầu và nợ chung không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Căn cứ Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn với anh Nguyễn Anh Đ có nơi cư trú tại xã Tân Hiệp, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước thì đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị D, bị đơn là anh Nguyễn Anh Đ, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến tòa án viết bản trình bày ý kiến, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Nguyễn Anh Đ không đến tòa án làm việc, tham gia hòa giải đồng thời vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 mà không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy
2 định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã có đơn xin vắng mặt tại các phiên tòa xét xử nên Tòa án vẫn tiếp tục xét xử theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Anh Đ là hôn nhân hợp pháp, các đương sự có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Chánh Phú Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Chị D cho rằng vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trầm trọng và và đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn nên chị D yêu cầu ly hôn với anh Đ. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo biên bản xác minh tại địa phương ngày 04/4/2018 thì về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Anh Đ trong cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và thường xuyên cãi nhau anh Đ không chăm lo cho gia đình, ham chơi cá độ, cờ bạc nên tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt không thể hàn gắn được, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017. Ngoài ra ý chí của chị D về việc chấm dứt quan hệ hôn nhân với anh Đ là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị D về việc chấm dứt quan hệ hôn nhân với anh Nguyễn Anh Đ.
[3].Về con chung: Con chung tên Nguyễn Thị Minh Thư, sinh ngày 10/09/2008, Nguyễn Anh Thư, sinh ngày 10/9/2012 hiện tại đang sống chung với chị Dư. Khi ly hôn chị Dư yêu cầu nuôi 02 con chung không yêu cầu anh Điền cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy đối với con chung tên Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 10/09/2008, Nguyễn Anh T, sinh ngày 10/9/2012 đang sống với chị D và nguyện vọng của con chung Nguyễn Thị Minh T là sống với mẹ, chị D cung cấp chứng cứ nuôi con là bảng lương thể hiện thu nhập hàng tháng, anh Đ không trình bày ý kiến và không cung cấp chứng cứ về việc nuôi con chung vì vậy cần giao 02 con chung cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị D về việc không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về án phí: Nguyễn Thị D chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 01 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 2 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015.
3
Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Anh Đ.
Giấy chứng nhận kết hôn số 39, quyển số 01 ngày 08/04/2008 của Ủy ban nhân dân xã Chánh Phú Hòa, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương hết giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Minh T, sinh ngày 10/09/2008, Nguyễn Anh T, sinh ngày 10/9/2012 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Nguyễn Anh Đ có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004565 ngày 01/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Nơi"nhận:"
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bình Phước;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND huyện Hớn Quản;
- Chi cục THADS huyện Hớn Quản;
Đã ký
- UBND xã Chánh Phú Hòa;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Hồ Văn Thanh
4
5 Bùi Văn Hồng
Trịnh Văn Đoan
Hồ Văn Thanh
6 Nơi"nhận:"
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bình Phước;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND huyện Hớn Quản;
- Chi cục THADS huyện Hớn Quản;
- UBND xã Phước An;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Hồ Văn Thanh
7
8