- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "NGUYEN PHUC N- NGUYEN THI LAM T"
- Tòa quyết gì? 39, Điều 149, Điều 370, Điều 372, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 443/2019/QĐST-DS | Thủ Dầu Một, ngày 23 tháng 8 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Minh Nga. Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên họp: Bà Lưu Kim Hằng – Kiểm sát viên. Ngày 23 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 82/2019/TLST-VDS ngày 06 tháng 03 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 82/2019/QĐST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây: - Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Phúc N, sinh năm 1975; địa chỉ: Số 438/2 (số cũ 10/28), đường Hồ Văn C, Khu phố 6, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Lâm T, sinh năm 1967; địa chỉ: Số 438/2 (số cũ 10/28), đường Hồ Văn C, Khu phố 6, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ: Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ghi ngày 19/02/2019, ông Nguyễn Phúc N trình bày: Giữa ông Nguyễn Phúc N và bà Nguyễn Thị Lâm T, sinh năm 1967; địa chỉ: Số 438/2 (số cũ 10/28), đường Hồ Văn C, Khu phố 6, phường B, thành phố
T, tỉnh Bình Dương có quan hệ là chị em nuôi (bà Nguyễn Thị Lâm T được ba mẹ ông N nhận làm con nuôi). Vào khoảng năm 2004, không rõ vì lý do gì mà bà T bỏ nhà đi đâu, làm gì đến nay không rõ. Nhiều lần ông N và gia đình tìm kiếm ở nhiều nơi nhưng không có kết quả. Nay ông Nguyễn Phúc N yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Lâm T mất tích. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự: + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã thực hiện việc thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Quá trình giải quyết và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định tại các Điều 369, 388 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. + Về việc giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Lâm T đã bỏ địa phương đi từ năm 2004 đã được Công an phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương xác nhận và Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đúng theo quy định tại Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015, thì yêu cầu của ông Nguyễn Phúc N là có căn cứ, vì vậy đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Phúc N về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị Lâm T mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một nhận định: [1] Về tố tụng: [1.1] Về thẩm quyền: Ông Nguyễn Phúc N yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị Lâm T mất tích, đây là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bà Nguyễn Thị Lâm T có địa chỉ cư trú cuối cùng tại số 438/2 (số cũ 10/28), đường Hồ Văn C, Khu phố 6, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một
theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. [1.2] Về việc tham gia phiên họp của những người tham gia tố tụng: Tại phiên họp người yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Nguyễn Phúc N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt ông N theo quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. [2] Xét yêu cầu giải quyết việc dân sự của người yêu cầu: Qua xem xét tài liệu, chứng cứ do ông Nguyễn Phúc N cung cấp thể hiện bà Nguyễn Thị Lâm T đã bỏ địa phương đi từ năm 2004 đã được Công an phường B, thành phố T xác nhận. Do đó, ông Nguyễn Phúc N yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Lâm T mất tích. Quá trình giải quyết, ngày 25 tháng 3 năm 2019 Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối bà Nguyễn Thị Lâm T theo quy định tại Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối bà Nguyễn Thị Lâm T được đăng trên Báo Công Lý trong 03 số liên tiếp (số 29, 30, 31 trong các ngày 10, 12, 17 tháng 4 năm 2019) và phát sóng trên Trung tâm truyền hình Việt Nam VTV9 ba lần trong ba ngày liên tiếp (từ ngày 08/42019 đến ngày 10/4/2019). Tính đến thời điểm hiện nay, đã quá thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng bà T không liên hệ với Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một và cũng không có ai thông báo cho Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tin tức về bà Nguyễn Thị Lâm T. Ông Nguyễn Phúc N cũng không có thông tin nào khác đối với bà T. Vì vậy, việc ông Nguyễn Phúc N yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Lâm T mất tích là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Tòa án chấp nhận. [3] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết việc dân sự là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Tòa án. [4] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Phúc N phải nộp theo quy định tại Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 372, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Phúc N. Tuyên bố bà Nguyễn Thị Lâm T, sinh năm 1967; địa chỉ: Số 438/2 (số cũ 10/28), đường Hồ Văn C, Khu phố 6, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương mất tích. 2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Phúc N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0033508 ngày 26/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. 3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND Tp. Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS Tp. Thủ Dầu Một; - UBND phường B, thành phố T, tỉnh - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. Nguyễn Thị Minh Nga | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Bình Dương; |