vanban.org

Quyết định 44/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (22/9/2022). 3/ Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Phạm Minh T"
  • Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 44/QĐ-TAThủ Dầu Một, ngày 25 tháng 10 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Lê Minh Đạo.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Hiếu.

Ngày 25 tháng 10 năm 2022, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 49/QĐ-TA ngày 13 tháng 10 năm 2022, đối với:

Họ và tên: Phạm Minh T. Giới tính: Nam.

Sinh năm: 1987.

Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 7/12.

Nguyên quán: Tỉnh Bình Dương.

CMND số: 280887xxx.

Hộ khẩu thường trú: Số x, đường NVT, khu phố x1, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 29/7/2009, UBND huyện B, tỉnh Bình Dương ra quyết định số 1505/QĐ-UBND đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc trong thời hạn 24 tháng; Ngày 09/4/2012, Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 30 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 67/2012/HSST.

Con ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1/ Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Duy Văn - Cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M.

2/ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một: Bà Nguyễn Thị Hải

- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T do Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M chuyển đến thể hiện:

Ngày 22/9/2022, Công an phường H, thành phố M, tỉnh Bình Dương phát hiện Phạm Minh T sử dụng trái phép chất ma tuý và lập biên bản vi phạm hành chính. Căn cứ phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện ma túy ngày 22/9/2022 của Trung tâm Y tế thành phố M thể hiện: Phạm Minh T có nghiện ma túy, loại Methamphetamine. Do đó, ngày 22/9/2022, Ủy ban nhân dân phường H đã ban hành Quyết định về việc lập hồ sơ đề nghị đưa Phạm Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Quyết định giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh B quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 22/9/2022, Công an phường H đã ban hành Thông báo số 22/TB-CAP về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thông báo đã được giao cho Phạm Minh T.

Ngày 03/10/2022, Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M đã ban hành văn bản số 68/ĐN-CNBB về việc đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T.

- Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M phát biểu quan điểm: Phạm Minh T sử dụng trái phép chất ma tuý, đã được cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma tuý. Do Phạm Minh T được xác định có nghiện ma túy và không có nơi cư trú ổn định nên đề nghị Toà án ban hành Quyết định đưa Phạm Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 20 tháng đến 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một phát biểu quan điểm: Hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T đúng theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Quá trình thụ lý giải quyết cũng như tại phiên họp, Tòa án đã thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Do Phạm Minh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và không có nơi cư trú ổn định nên việc Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T là phù hợp. Đề nghị Toà án chấp nhận theo lời đề nghị của Phòng Lao động Thương binh Xã hội.

Người bị đề nghị trình bày: Phạm Minh T thừa nhận có sử dụng ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine. Phạm Minh T không có ý kiến gì về việc lập hồ sơ và đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M.

XÉT THẤY:

Do Phạm Minh T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Công an phường H lập biên bản vi phạm hành chính. Việc lập biên bản vi phạm hành chính của Công an phường H đối với Phạm Minh T là phù hợp theo Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020), được hướng dẫn tại Điều 6 Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Theo phiếu trả lời kết quả ngày 22/9/2022 của Trung tâm Y tế thành phố M thể hiện Phạm Minh T có nghiện ma tuý, loại ma tuý là Methamphetamine. Phạm Minh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 22/9/2022 tính đến ngày Toà án mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa Phạm Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là còn trong thời hiệu, theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Theo hồ sơ thể hiện Phạm Minh T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Số x, đường NVT, khu phố x1, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, theo phiếu trả lời kết quả xác minh ngày 22/9/2022 của Công an phường T thể hiện: Đối tượng Phạm Minh T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ nêu trên nhưng không có nơi cư trú ổn định. Do đó Chủ tịch UBND phường H quyết định lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp theo quy định tại các Điều 95, 96 và 103 của Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 41 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Phạm Minh T là nghiêm trọng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến tội phạm và làm ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Xét bản thân Phạm Minh T đã từng bị áp dụng biện pháp chữa bệnh bắt buộc, từng bị xét xử về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy nhưng vẫn tiếp tục sử dụng ma túy. Do đó, cần thiết phải đưa Phạm Minh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để tạo điều kiện cai nghiện, lao động và học tập một thời gian, để sau khi cai nghiện được hòa nhập cộng đồng, làm người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Người vi phạm thành khẩn khai báo, thành thật hối lỗi quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi bổ sung 2020).

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T thời hạn từ 20 tháng đến 24 tháng là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Minh T.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (22/9/2022).

3/ Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Quyết định được công bố.

4/ Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5/ Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ