vanban.org

Quyết định 44/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị X.

Thời gian chấp hành cai nghiện bắt buộc tại: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau (Địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau) là: 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị X.
  • Căn cứ chính? Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 3 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 44/QĐ-TAHuyện Trần Văn T, ngày 31 tháng 8 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Lâm Thành Q

2. Thư ký phiên họp: Bà Trịnh Nga Muội

Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 45/QĐ-TA ngày 15 tháng 8 năm 2023, đối với:

Họ và tên: Trần Thị X, Giới tính: Nữ.

Sinh ngày 01/01/1993.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: Lớp 0/12.

Nguyên quán: Xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Hộ khẩu thường trú: Ấp Công Bình, xã Phong Lạc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở: Khóm 12, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 (bị Công an thị trấn S ban hành Quyết định số 533 ngày 10/6/2023 xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý).

Con ông: Trần Văn C và bà Nguyễn Thị H.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Giang Chí L - Đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Cà Mau.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên họp: Bà Phạm Huỳnh Trang – Kiểm sát viên.

3. Những người khác: Không.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên họp, hành vi vi phạm của Trần Thị X được tóm tắt như sau:

Xiếu bị Công an thị trấn S mời về trụ sở Công an thị trấn S thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể do Công an thị trấn S lập ngày 03/7/2023, X dương tích với chất ma túy.

Từ đó, Công an thị trấn S lập Biên bản làm việc số 82 ngày 03/7/2023 lúc 10 giờ 00 phút và Biên bản vi phạm hành chính số 48 lúc 10 giờ 35 phút ngày 03/7/2023 đối với X về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 11/7/2023 của Phòng khám Đ, huyện T xác định X nghiện ma túy dạng Methamphetamine (ma túy đá).

Công an thị trấn S tiến hành lập Biên bản làm việc số 83 vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 11/7/2023 đối với X và ấn định cho X thời gian từ ngày 13 giờ 30 phút ngày 11/7/2923 đến 13 giờ 30 phút ngày 18/7/2023 Xiếu phải đăng ký cai nghiện tự nguyện tại Trung tâm y tế huyện T.

Tuy nhiên, theo Giấy xác nhận ngày 18/7/2023 của Trung tâm y tế huyện T xác nhận Xiếu không có đăng ký cai nghiện tại Trung tâm y tế huyện T thời gian từ 13 giờ 30 phút ngày 11/7/2923 đến 13 giờ 30 phút ngày 18/7/2023.

Từ đó, Công an thị trấn S lập Biên bản làm việc số 84 ngày 19/7/2023 và lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 49 lúc 11 giờ 00 phút ngày 19/7/2023 đối với X.

Việc, X không tự nguyện cai nghiện ma tuý tại Cơ quan có thẩm quyền là đã vi phạm tại điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Từ đó, Trưởng Công an thị trấn S ban hành Thông báo số 28 ngày 19/7/2023 thông báo cho X biết về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa Xiếu vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và ban hành Đề nghị số 26 ngày 25/7/2023 về việc đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T xem xét, áp dụng biện pháp đưa X vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Trần Văn T, tỉnh Cà Mau có Bản đề nghị số 41 ngày 07/8/2023 về việc đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa X vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 12 đến 24 tháng tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau (Địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau). Tại phiên họp:

Đại diện Cơ quan đề nghị giữ nguyên Bản đề nghị số 41 ngày 07/8/2023 của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Trần Văn T, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa X vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 12 đến 24 tháng tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau (Địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau). Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý và mở phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã chấp hành đúng Pháp lệnh số 03/2014/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời chấp nhận Bản đề nghị số 41 ngày 07/8/2023 của Trưởng phòng LĐ - TB và Xã hội huyện Trần Văn T về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa X vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 12 đến 24 tháng tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau (Địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau). Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên và người bị đề nghị.

XÉT THẤY:

Về tố tụng: Đối tượng X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với X là đúng theo quy định tại các điều 3, 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét:

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể do Công an thị trấn S lập ngày 03/7/2023, X dương tích với chất ma túy.

Từ đó, Công an thị trấn S lập Biên bản làm việc số 82 ngày 03/7/2023 lúc 10 giờ 00 phút và Biên bản vi phạm hành chính số 48 lúc 10 giờ 35 phút ngày 03/7/2023 đối với X về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 11/7/2023 của Phòng khám Đ, huyện T xác định X nghiện ma túy dạng Methamphetamine (ma túy đá).

Công an thị trấn S tiến hành lập Biên bản làm việc số 83 vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 11/7/2023 đối với X và ấn định cho X thời gian từ ngày 13 giờ 30 phút ngày 11/7/2923 đến 13 giờ 30 phút ngày 18/7/2023 Xiếu phải đăng ký cai nghiện tự nguyện tại Trung tâm y tế huyện T.

Tuy nhiên, theo Giấy xác nhận ngày 18/7/2023 của Trung tâm y tế huyện T xác nhận Xiếu không có đăng ký cai nghiện tại Trung tâm y tế huyện T thời gian từ 13 giờ 30 phút ngày 11/7/2923 đến 13 giờ 30 phút ngày 18/7/2023.

Từ đó, Công an thị trấn S lập Biên bản làm việc số 84 ngày 19/7/2023 và lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 49 lúc 11 giờ 00 phút ngày 19/7/2023 đối với X.

Việc, X không tự nguyện cai nghiện ma tuý tại Cơ quan có thẩm quyền là đã vi phạm tại điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Từ đó, Trưởng Công an thị trấn S ban hành Thông báo số 28 ngày 19/7/2023 thông báo cho X biết về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa Xiếu vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và ban hành Đề nghị số 26 ngày 25/7/2023 về việc đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T xem xét, áp dụng biện pháp đưa X vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Xét, ma túy là chất độc hại, Nhà nước nghiêm cấm sử dụng, nhưng X vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy, làm phát sinh các tội phạm khác và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Để cắt cơn nghiện, cai nghiện ma túy và tạo điều kiện cho X sớm tái hòa nhập cộng đồng, cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với X là cần thiết.

Về tình tiết tăng nặng:

X đã từng bị Công an thị trấn S ban hành Quyết định số 533 ngày 10/6/2023 xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, nhưng nay lại tiếp tục vi phạm là sử dụng trái phép chất ma tuý, là thuộc trường hợp “tái phạm” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Xiếu tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Do đó, cần giảm nhẹ một phần mức áp dụng đối với X khi ban hành quyết định là phù hợp.

Căn cứ:

Các điều 3, 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.

Các điều 95, 96, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Các điều 10, 20, 23, 31, 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Chấp nhận Bản đề nghị số 41 ngày 07/8/2023 của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Trần Văn T về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa X vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau (Địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị X.

2. Thời gian chấp hành cai nghiện bắt buộc tại: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau (Địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau) là: 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng lao động - Thương binh và Xã hội huyện T; Công an huyện Trần Văn T và Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau.

Cỡ chữ