vanban.org

Quyết định 44/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố H thành lập đối với ông Nguyễn Minh N.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở cai nghiện ma túy P. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 26/11/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố H thành lập đối với ông Nguyễn Minh N.
  • Căn cứ chính? Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số : 44/QĐ-TACủ Chi, ngày 02 tháng 02 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thơ

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Hồ Quyết Thắng

Ngày 02 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Cơ sở cai nghiện ma túy Thanh thiếu niên 2 tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 46/QĐ-TA ngày 26 tháng 01 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Minh N, sinh năm: 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 10/12; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 45/8/2A đường F, ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; Con ông: Nguyễn Bá T1 và bà: Nguyễn Thị K; Tiền án, tiền sự: Năm 2004 bị đưa vào Trường G theo Quyết định số 68/QĐ-UB ngày 06/4/2004, thời gian là 24 tháng; Năm 2016 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc.

Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đoàn Thanh Vân; chức vụ: Chuyên viên - Là người đại diện theo ủy quyền của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi: Bà Nguyễn Ngọc Diệu - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 26/11/2023, Công an xã P, huyện C đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Nguyễn Minh N về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 30/11/2023, Ủy ban nhân dân xã P, huyện C đã lập biên bản vi phạm đối với người bị đề nghị, xác định đối tượng bị đề nghị không đăng ký hình thức cai nghiện tự nguyện, do vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, huyện C đã ban hành quyết định số: 402/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 23/01/2024, Ủy ban nhân dân xã P, huyện C có Văn bản số: 22/ĐN-CNBB gửi Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị.

Tại văn bản số: 134/ĐN-CNBB ngày 25/01/2024 và tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C vẫn giữ nguyên đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Nguyễn Minh N vào Cơ sở cai nghiện ma túy P để cai nghiện bắt buộc theo quy định.

Tại phiên họp, người bị đề nghị đồng ý với đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, xin xem xét cho thời gian cai nghiện bắt buộc ngắn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phát biểu:

Quá trình thụ lý và tại phiên họp hôm nay Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, căn cứ vào khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính, khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy, đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Minh N, thời gian đi cai nghiện bắt buộc là 18 tháng đến 21 tháng.

XÉT THẤY:

Căn cứ khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Minh N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, TP ..

Về thời hiệu: Ngày 26/11/2023, Công an xã P, huyện C đã lập lập biên bản vi phạm hành chính đối với Nguyễn Minh N về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, vi phạm khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Ngày 02/02/2024, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng là còn thời hiệu.

Căn cứ biên bản vi phạm hành chính ngày 26/11/2023 của Công an xã P, huyện C, biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 26/11/2023, phiếu trả lời kết quả ngày 29/11/2023 của Cơ sở cai nghiện ma túy Thanh thiếu niên B về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Nguyễn Minh N xác định người bị đề nghị là đối tượng nghiện ma túy loại MET (Methamphetamine). Và tại biên bản vi phạm ngày 30/11/2023 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện C đã lập đối với người bị đề nghị, xác định đối tượng bị đề nghị không đăng ký hình thức cai nghiện tự nguyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Tại bản tường trình ngày 26/11/2023 của Nguyễn Minh N thể hiện người bị đề nghị có nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú tại ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, căn cứ vào Phiếu trả lời xác minh của Công an xã P, huyện C xác định đối tượng có hộ khẩu thường trú tại địa phương, nhưng không thường xuyên sinh sống tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ địa chỉ, không nơi cư trú ổn định. Do vậy, có đủ cơ sở xác định người bị đề nghị không có nơi cư trú ổn định.

Từ phân tích trên, xét đề nghị của Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C lập hồ sơ đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Nguyễn Minh N vào Cơ sở cai nghiện ma túy P để cai nghiện bắt buộc theo quy định là đúng thẩm quyền, đúng đối tượng theo quy định tại Điều 95; khoản 1 Điều 96 và điểm b, khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Năm 2004 bị đưa vào Trường G theo Quyết định số 68/QĐ-UB ngày 06/4/2004, thời gian là 24 tháng; Năm 2016 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc.

Từ nhận định trên, xét cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị một thời gian tương đối dài để tạo điều kiện cai nghiện triệt để.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 3; các Điều 23, 31, 32, 33 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Căn cứ vào Điều 95; Điều 96; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố H thành lập đối với ông Nguyễn Minh N.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở cai nghiện ma túy P.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 26/11/2023.

Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan biết.

3. Trong hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án.

4. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định này.

Cỡ chữ