- Tranh chấp gì? "Cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 3, Điều 31 Pháp lệnh 09/2014 –UBTVQH13 ngày 20/01/2014khoản 2 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; điểm c khoản 1 Điều 33 Nghị định 116 ngày 21/12/2021 quy định chi tiết 1 số điều của luật phòng chống ma túy, Luật …
- Căn cứ chính? Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH TỈNH TH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 44/2022/QĐ-TA | TH, ngày 04 tháng 8 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Thị Thanh Trúc
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Nam Thái
Ngày 04/8/2022 tại Tòa án nhân dân thành phố TH tiến hành phiên họp xem xét, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thụ lý số 46/TB –TLHS ngày 26 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định mở phiên họp số 46/QĐ-TA ngày 28/7/2022 đối với:
Hoàng Văn T - Giới tính Nam, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1978; Nơi cư trú: xóm N, xã L, thành phố TH, tỉnh TH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Hoàng Minh B và con bà Vi Thị S; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân 02.
(Có đơn xin xét vắng mặt tại phiên họp)
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đồng Thị Hạnh – Chức vụ: Phó trưởng phòng, Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố TH
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH: Bà Nguyễn Thị Thu Nhung, chức vụ: Kiểm sát viên
NHẬN THẤY
Theo hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn T, sinh năm 1978; Nơi cư trú: xóm N, xã L, thành phố TH, tỉnh TH là người nghiện ma túy từ năm 2012 cho đến nay, loại ma túy sử dụng là Heroine, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại gia đình theo Quyết định số 02/QĐ –UBND ngày 01/12/2021 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã L, thành phố TH do nghiện ma túy với thời hạn cai nghiện là 12 tháng kể từ ngày Quyết định có hiệu lực.
Ngày 11/7/2022 T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 16/7/2022 Công an xã L, thành phố TH đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi trên đối với T.
Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy và phiếu theo dõi để xác định trạng thái cai các chất dạng thuốc phiện (Phụ lục số 04 Thông tư 08/2021/TT – BYT) ngày 15/7/2022 của Trung tâm y tế thành phố TH có kết quả Hoàng Văn T nghiện ma túy nhóm MOP, loại ma túy Heroine.
Người bị đề nghị Hoàng Văn T vắng mặt tại phiên họp. Tại bản tường trình ngày 11/7/2022 T trình bày: Bản thân là người nghiện ma túy loại Heroine với hình thức tiêm chích từ năm 2012 cho đến nay, mỗi ngày sử dụng một lần. Ngày 11/7/2022 là ngày gần đây nhất có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 16/7/2022 Công an xã L lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại phiên họp, đại diện phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố TH đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH, thời gian là 13 đến 15 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH có ý kiến: Quá trình xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn T, cơ quan lập hồ sơ, cơ quan đề nghị đã thực hiện đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định hướng dẫn. Quá trình từ khi thụ lý hồ sơ và tại phiên họp, Thẩm phán giải quyết đã tuân thủ theo đúng thủ các quy định của Pháp lệnh quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, có đủ căn cứ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn T. Đề nghị Tòa án áp dụng điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, 104, khoản 2 Điều 105, Điều 106 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116 ngày 21/12/2021 quy định chi tiết 1 số điều của luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy giải quyết theo hướng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T thời hạn từ 18 đến 21 tháng tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH.
Sau khi xem xét ý kiến của Cơ quan đề nghị, người bị đề nghị, đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp.
XÉT THẤY
Qua xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T thấy:
- Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012, Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố TH.
- Về thời hiệu: Ngày 16/7/2022, Công an xã L lập biên bản vi phạm hành chính đối với T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. T thừa nhận bản thân có nghiện ma túy, lần sử dụng gần đây nhất là ngày 11/7/2022. Do đó đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố TH đối với T đảm bảo về thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 4 Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Về hồ sơ đề nghị áp dụng: Đã có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 9 Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính và cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T thấy: T là đối tượng nghiện ma túy trên 18 tuổi từ năm 2012, có nơi cư trú ổn định, Tđã có quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L cho cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, trong thời gian cai nghiện tại gia đình T chưa cai bỏ được ma túy mà vẫn tiếp tục sử dụng. Ngày 11/7/2022 là ngày gần đây nhất T có hành vi sử dụng ma túy bị Công an xã L lập biên bản vi phạm hành chính. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 15/7/2022 của Trung tâm y tế thành phố TH có kết quả T nghiện ma túy nhóm MOP, loại ma túy Heroine. Sau khi thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc và giao thông báo thụ lý, Quyết định mở phiên họp cho T, T đã nhận các văn bản và có đơn xin vắng mặt tại phiên họp.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của người bị áp dụng: T không phải chịu tình tiết tăng nặng theo Điều 10 Luật xử phạt vi phạm hành chính. Về tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử phạt vi phạm hành chính thì Tự được hưởng tình tiết đó là người vi phạm hành chính tự nguyện viết bản tường trình, tự nguyện khai báo.
Như vậy đã có đủ căn cứ để xác định T là người nghiện ma túy, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại gia đình. Phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố TH đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tự là có căn cứ, đúng quy định tại khoản 2 Điều 95 và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 3, Điều 31 Pháp lệnh 09/2014 –UBTVQH13 ngày 20/01/2014khoản 2 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; điểm c khoản 1 Điều 33 Nghị định 116 ngày 21/12/2021 quy định chi tiết 1 số điều của luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH đối với:
Hoàng Văn T - Giới tính Nam, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1978; Nơi cư trú: xóm N, xã L, thành phố TH, tỉnh TH;
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án. (Đối với người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt tại phiên họp thì được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án).
Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/02/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố TH chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố TH, tỉnh TH đưa người đi thi hành Quyết định; Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Phòng LĐTBXHTP TH; - VKSND tỉnh TH; -VKSND thành phố TH; - Công an thành phố TH; - Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH; - Công an phường; - UBND phường (xã); - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Trương Thị Thanh Trúc |