- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Mạnh H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của anh Phạm Mạnh H.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 430/2024/HNGĐ- ST Ngày: 26/8/2024. V/v: Yêu cầu xác định cha cho con |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu xác định cha cho con.
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Chủ tọa phiên họp: Ông Lý Kế Hiền- Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Khánh Linh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Phong Thị Lan - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân gia đình thụ lý số: 387/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 về việc “Yêu cầu xác nhận cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp số 10/2024/QĐPH ngày 13 tháng 8 năm 2023.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Anh Phạm Mạnh H, sinh năm 1991; Nơi ĐKTT và cư trú: Tổ 25, khu Đông Hải 1, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh (Có mặt).
2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Bùi Hồng P, sinh năm 1990; Nơi ĐKTT và cư trú: TDP Viên 6,
phường B, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
+ Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1986; Nơi ĐKTT và cư trú: TDP 5,
phường P, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin vắng mặt)
+ Cháu Phạm Ngọc Tuệ A, sinh ngày 23/10/2023 (theo Giấy chứng sinh số
26247 của Bệnh viện sản nhi Quảng Ninh cấp ngày 24/10/2023)- Người đại diện theo pháp luật của cháu A là chị Bùi Hồng P.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Anh Phạm Mạnh H trình bày: Tháng 4/2022 anh có gặp gỡ và quen chị Bùi Hồng P, hai bên đã nảy sinh tình cảm, quá trình tìm hiểu anh được biết chị P đang là vợ chồng hợp pháp với anh Nguyễn Văn N nhưng hai người đã sống ly thân và không còn chung sống với nhau từ năm 2018, nhưng do điều kiện và không liên lạc được với nhau nên chưa làm thủ tục ly hôn. Đến tháng 5/2023 chị P và anh N đã hoàn tất xong thủ tục giải quyết ly hôn. Thời gian này, chị P mang thai con của anh đến tháng 10/2023 thì chị P đã sinh con tại bệnh viện Sản nhi Quảng Ninh, dự định của anh chị đặt tên cháu là Phạm Ngọc Tuệ A. Tháng 01/2024 anh và chị P đến UBND phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh để làm thủ tục đăng ký kết hôn đồng thời làm giấy khai sinh cho cháu A thì được biết rằng theo quy định của pháp luật sau khi ly hôn mà có con trong 300 ngày thì con vẫn được tính là con của chồng cũ, tức là con của anh Nguyễn Văn N.
Để hoàn tất thủ tục làm giấy khai sinh cho cháu, bảo đảm quyền và lợi ích cho cháu Phạm Ngọc Tuệ A, anh đề nghị Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm tuyên bố cháu Phạm Ngọc Tuệ A là con của anh H.
Chị Bùi Hồng P trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn N kết hôn và ly hôn ngày 05/5/2023 theo Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 290/2022/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân quận Hà Đông. Theo Quyết định thuận tình ly hôn, Tòa án ghi nhận chị và anh N có 01 con chung là cháu Nguyễn Đức T, sinh ngày 10/10/2012, anh N là người trực tiếp nuôi dưỡng. Trước khi giải quyết ly hôn, chị và anh Nguyễn Văn N đã có 04 năm sống ly thân, không ở cùng nhau, không liên lạc với nhau, trong quá trình sống ly thân đó, chị có gặp gỡ, nảy sinh quan hệ tình cảm với anh Phạm Mạnh H và có với nhau 01 con chung. Ngày 23/10/2023, chị sinh cháu tại Bệnh viện sản nhi Quảng Ninh theo Giấy chứng sinh số 26247 của Bệnh viện sản nhi Quảng Ninh cấp ngày 24/10/2023. Chị và anh H dự định đặt tên cháu là Phạm Ngọc Tuệ A. Tháng 01/2024 chị và anh Phạm Mạnh H cùng nhau ra UBND phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh để làm thủ tục đăng ký kết hôn đồng thời làm giấy khai sinh cho cháu A thì được cán bộ của Ủy ban phường cho biết theo quy định của pháp luật sau khi ly hôn trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân mà có con sẽ vẫn được tính là con của chồng trước là anh Nguyễn Văn N.
Để làm thủ tục khai sinh, đảm bảo quyền và lợi ích cho cháu, chị đề nghị Tòa án xác định anh Phạm Mạnh H là cha của cháu Phạm Ngọc Tuệ A.
Anh Nguyễn Văn N trình bày: Anh và chị Bùi Hồng P kết hôn vào năm 2011, sau đó do mâu thuẫn vợ chồng nên đã làm thủ tục ly hôn tại Toà án nhân dân quận Hà Đông và được Toà án ghi nhận theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 290/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05/5/2023. Theo quyết định, anh và chị P có 01 con chung là cháu Nguyễn Đức T, sinh ngày 10/10/2012 và do anh trực tiếp nuôi dưỡng. Trước khi giải quyết ly hôn tại tòa án, anh và chị P đã sống ly thân từ khoảng năm 2018, mỗi người ở một nơi, không có quan hệ tình cảm gì với nhau nữa. Anh được biết trong quá trình sống ly thân đó, năm 2022 chị P có qua lại, tìm hiểu với người đàn ông khác là anh Phạm Mạnh H nên sau đó anh chị đã làm thủ tục giải quyết ly hôn vào tháng 5/2023. Khi giải quyết ly hôn, anh không biết chị P có bầu. Đến tháng 10/2023, chị P sinh con thì anh mới biết thông tin này, anh khẳng định cháu Phạm Ngọc Tuệ A không phải là con của anh.
Anh Phạm Mạnh H làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xác nhận cháu Phạm Ngọc Tuệ A là con đẻ của anh, để đảm bảo quyền lợi cho cháu đề nghị Toà án giải quyết xác nhận cho anh H theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm phát biểu quan điểm:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, thư ký tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm khi mở phiên họp nhận thấy: Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 BLTTDS. Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật là yêu cầu “Xác nhận cha cho con” – đúng quy định tại Điều 29 BLTTDS.
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Người yêu cầu là anh Phạm Mạnh H có đơn yêu cầu TAND quận Bắc Từ Liêm giải quyết việc Hôn nhận gia đình. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Bùi Hồng P hiện đang cư trú tại phường B, Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Do đó, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc TAND quận Bắc Từ Liêm theo quy định tại Điều 35, Điều 39 BLTTDS
- Về xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự: Thẩm phán đã xác định đúng và đầy đủ tư cách tham gia tố tụng của đương sự đảm bảo đúng quy định tại Điều 68 BLTTDS.
- Về thu thập tài liệu chứng cứ: Thẩm phán đã tiến hành thu thập lời khai của đương sự trong vụ việc, yêu cầu cung cấp kết quả xét nghiệm di truyền đối với Công ty Cổ phần dịch vụ phân tích di truyền (GENTIS), xác định đây là hoạt động thu thập chứng cứ. Việc thu thập chứng cứ của Thẩm phán đúng quy định tại Điều 94, 97 BLTTDS.
Đây là phiên họp xác nhận cha cho con, thuộc trường hợp VKS tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 BLTTDS.
- Về chấp hành thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu và chuyển hồ sơ đến VKS: Ngày 02/8/2024, Thẩm phán thụ lý việc dân sự. Ngày 13/8/2024, thẩm phán Quyết định mở phiên họp sở thẩm giải quyết việc dân sự, tống đạt Quyết định cho đương sự và gửi cho VKSND quận Bắc Từ Liêm là đúng thời hạn quy định tại Điều 366 BLTTDS. Ngày 19/8/2023, Tòa án chuyển hồ sơ đến VKSND quận Bắc Từ Liêm để nghiên cứu tham gia phiên họp vào ngày 26/8/2024 là đúng quy định tại Điều 366 BLTTDS.
- Về tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự: Thẩm phán thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng đúng theo quy định của BLTTDS.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Người yêu cầu anh Phạm Mạnh H đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70 BLTTDS.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn N, chị Bùi Hồng P đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 73 BLTTDS. Anh N có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ việc đúng theo quy định tại Điều 227 BLTTDS
Thẩm phán, chủ tọa phiên họp đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS về phiên họp HNGĐ sơ thẩm tại Chương 14 BLTTDS.
Đề nghị TAND quận Bắc Từ Liêm: Căn cứ Điều 29, 35, 39 BLTTDS, Điều 39 BLDS, Điều 89, 90, 101 Luật hôn nhân và gia đình:
Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Phạm Mạnh H về việc xác nhận cha – con.
Xác định: Anh Phạm Mạnh H là cha của cháu Phạm Ngọc Tuệ A sinh ngày 23/10/2023 (Theo Giấy chứng sinh số 26247 của Bệnh viện sản nhi Quảng Ninh cấp ngày 24/10/2023)
Về lệ phí: Anh H được miễn 300.000 đồng lệ phí việc dân sự theo quy định tại NQ 326/UBTVQH.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm nhận định:
Về tố tụng: Việc yêu cầu Tòa án xác định cha cho con của anh Phạm Mạnh H là hoàn toàn tự nguyện phù hợp quy định tại khoản 10 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Anh H giao nộp cho Tòa án kết quả xét nghiệm AND giữa anh H và cháu A. Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã ra Công văn số 460/CV-TA ngày 08/8/2024 thu thập chứng cứ tại Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền (GENTIS); Địa chỉ: Tầng 3, số 505 Minh Khai, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đối với quá trình thực hiện giám định ADN giữa anh Phạm Mạnh H và cháu Phạm Ngọc Tuệ A (tên dự kiến); Xác định anh Phạm Mạnh H có phải là cha đẻ của cháu Phạm Ngọc Tuệ A (tên dự kiến) sinh ngày 23/10/2023 hay không ?
Theo văn bản phúc đáp của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền (GENTIS) bao gồm kết quả xét nghiệm ADN mã số KQ 2400462 ngày 14/7/2024 kết luận: Anh Phạm Mạnh H và cháu Phạm Ngọc Tuệ A có quan hệ huyết thống cha - con.
Vì vậy, Tòa án chấp nhận Yêu cầu xác định cha con của anh là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Khoản 10 Điều 29, Điều 361, Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm b, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Anh Phạm Mạnh H được miễn tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 89, Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ: Điều 39 Bộ luật dân sự;
Căn cứ: Khoản 10 điều 29, Điều 361, Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của anh Phạm Mạnh H.
2. Xác định cháu Phạm Ngọc Tuệ A (tên dự kiến) sinh ngày 23/10/2023 tại Bệnh viện sản nhi Quảng Ninh là con đẻ của anh Phạm Mạnh H.
3. Anh Phạm Mạnh H được miễn tiền lệ phí giải quyết việc dân sự. Hoàn trả lại anh H số tiền lệ phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) theo biên lai số 0021822 ngày 02/8/2024 anh đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.
4. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND quận Bắc Từ Liêm; - Chi cục Thi hành án quận Bắc Từ Liêm; - Lưu hồ sơ vụ án | Lý Kế Hiền |