vanban.org

Quyết định 43/QĐ-TA

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 28/07/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với Trần Thị Mỹ N, sinh năm 1984; nơi đăng ký thường trú: tổ 07, khóm N, phường Z, thành phố K, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Thị Mỹ N, sinh năm 1984"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
  • Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 43/QĐ-TA

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.

2. Thư ký phiên họp: Bà Huỳnh Ngọc Thảo.

Ngày 28 tháng 7 năm 2020, tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh An

Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành

chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 46/QĐ-

TA ngày 23 tháng 7 năm 2020 đối với:

Trần Thị Mỹ N, sinh năm 1984; Giới tính: Nữ;

Nơi đăng ký thường trú: tổ 7, khóm N, phường Z, thành phố K, tỉnh An

Giang; chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định;

Nghề nghiệp: phụ giúp gia đình;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Đạo phật;

Trình độ văn hóa: 9/12;

Tiền án,tiền sự: Không.

Con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị U

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thanh Nhã – Cán bộ Phòng Lao

động - Thương binh và Xã hội thành phố K; là đại diện theo ủy quyền.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K tham gia phiên họp: Ông

Nguyễn Thành Thái – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 23/5/2020, Trần Thị Mỹ N bị công an phường V, thành phố K nghi

vấn có sử dụng ma túy, nên mời về trụ sở công an phường V, thành phố K tổ

chức lấy mẫu nước tiểu của N đưa đến Trung tâm y tế thành phố K để kiểm tra và

kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamin và Morphin, N cũng thừa nhận

việc sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời, Công an phường V, thành phố K lập

biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với N.

Ngày 23/5/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường V, thành phố K ban hành

Quyết định số 170/QĐ-UBND về việc giao cho cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội tỉnh An Giang quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N.

Ngày 05/6/2020, Ủy ban nhân dân phường Núi Sam, thành phố K ban hành

Tờ trình số 11/TTr-UBND đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố K xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị Mỹ N, nhằm giúp đỡ N có cơ hội cai nghiện, học nghề.

Theo Thông báo số 50/TB-PTP ngày 09/7/2020, Phòng Tư pháp thành

phố K đã kết luận, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với N bảo đảm về tính pháp lý.

Ngày 21/7/2020, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành văn

bản số 40/PLĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố K áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị Mỹ N với thời hạn tập trung từ 18 tháng đến 24 tháng.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố K giữ

nguyên quan điểm đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị Mỹ N với thời gian tập trung cai nghiện từ 18 đến 24 tháng.

- Trần Thị Mỹ N thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy như hồ sơ

thể hiện và xin áp dụng thời gian cai nghiện thấp.

- Đại diện Viện Kiểm sát thành phố K tham gia phiên họp phát biểu quan

điểm: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng quy định pháp luật tại Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 14, Điều 16, Điều 17, Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2014.

Căn cứ công văn đề nghị số 40 ngày 21/7/2020 của Phòng Lao động -

Thương binh và Xã hội thành phố K thì thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố K theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh 09 ngày 20/01/2014. N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối ngày 23/5/2020, Tòa án nhân dân thành phố K thụ lý là còn thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Trần Thị Mỹ N (sinh năm: 1984) là người nghiện ma túy trên 18 tuổi,

không có nơi cư trú ổn định, nên đề nghị đưa N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện quy định tại Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Đề nghị Toà án nhân dân thành phố K chấp nhận đề nghị của Phòng Lao

động - Thương binh và Xã hội thành phố K áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Thị Mỹ N.

XÉT THẤY:

* Về tố tụng:

Hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố K

đúng quy định tại Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

* Về nội dung:

Tại phiên họp, Trần Thị Mỹ N thừa nhận có sử dụng ma túy 02 ngày

trước khi Công an phường V mời về trụ sở để kiểm tra chất ma túy với kết quả

dương tính nên Công an đã lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy

của N. Lời khai nhận của N phù hợp với kết quả xét nghiệm của cơ quan chuyên

môn, bản tường trình, biên bản ghi lời khai và biên bản vi phạm hành chính do

Công an phường V, thành phố K lập ngày 23/5/2020.

Theo kết quả xác minh tình trạng cư trú của Trần Thị Mỹ N tại phường Z,

thành phố K, tỉnh An Giang được biết: Trần Thị Mỹ N, sinh năm 1984 có đăng

ký hộ khẩu thường trú tại tổ 07, khóm N, phường Z, thành phố K, tỉnh An Giang

nhưng không sinh sống tại địa chỉ trên từ năm 2003 đến nay.

Theo kết quả xác minh tình trạng cư trú của Trần Thị Mỹ N tại ban khóm

L, phường V, thành phố K được biết: Trần Thị Mỹ N, sinh năm 1984 không có

đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 15, khóm L, phường V, thành phố K, tỉnh An

Giang.

Theo biên bản ghi lời khai ngày 23/5/2020 của bà Nguyễn Thị U (mẹ ruột

N) xác định: N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại nà bà Huỳnh Thị R (bà Nội

của N) thuộc khóm N, phường Z, thành phố K. Từ khoảng 10 năm nay N bỏ đi

làm thuê tại thành phố Hồ Chí Minh, rất ít khi trở về nhà bà Nội của N. Từ đầu

năm 2020, N trở về nhà bà U tại tổ 15, khóm L, phường V, thành phố K, An

Giang. Bà U có yêu cầu chính quyền địa phương đưa N đi cai nghiện tự nguyện.

Tại phiên họp, N cũng xác định đi làm thuê tại quận Bình Tân, thành phố

Hồ Chí Minh hơn 10 năm nay nhưng không có đăng ký hổ khẩu thường trú hay

tạm trú tại đây. Chỉ về nhà mẹ ở V, thành phố K thăm gia đình rồi đi, không

thường xuyên sinh sống tại K.

Việc N sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường V phát hiện và

N cũng không chứng minh được thường xuyên sinh sống nơi đăng ký hộ khẩu

thường trú. Từ đó, N được xem là không có nơi cư trú ổn định.

Trần Thị Mỹ N đủ 18 tuổi, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và

không có nơi cư trú ổn định. Do đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội

thành phố K đề nghị đưa N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện theo

quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nên chấp nhận.

Về tình tiết giảm nhẹ và nhân thân: N có nhân thân xấu từng bị đưa đi cai

nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, tại phiên

họp N thành khẩn khai báo về hành vi đã sử dụng trái phép chất ma túy và có

nguyện vọng được cai nghiện nên có xem xét trong quá trình áp dụng biện pháp

xử lý hành chính đối với N.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104,

Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; các Điều 22, 23, 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với Trần Thị Mỹ N, sinh năm 1984; nơi đăng ký thường trú: tổ 07, khóm N, phường Z, thành phố K, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám)

tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 23 tháng 5 năm 2020).

3. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành

phố K và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố K là 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Thời hạn khiếu nại của Trần Thị Mỹ N là 03 ngày làm việc kể từ ngày

Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an nhân dân thành phố K chủ trì

phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố K đưa Trần Thị Mỹ N vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang.

Cỡ chữ