vanban.org

Quyết định 43/2025/QĐCNTTLH — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 17 tháng 9 năm 2025, cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bàn Thị Q và anh Đặng Văn Đ cùng nhất trí thuận tình ly hôn. Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2020 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (nay là UBND xã P, tỉnh Tuyên Quang) cấp ngày 13/3/2020 cho chị Bàn Thị Q và anh Đặng Văn Đ không còn giá trị pháp lý. Về con ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bàn Thị Q - Đặng Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 17 tháng 9 năm 2025, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 43/2025/QĐCNTTLHTuyên Quang, ngày 22 tháng 9 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ THỎA THUẬN

CỦA CÁC BÊN THAM GIA HÒA GIẢI TẠI TÒA ÁN

Căn cứ các Điều 32, 33, 34 và 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Căn cứ các Điều 55, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của chị Bàn Thị Q và anh Đặng Văn Đ. Sau khi nghiên cứu:

- Đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 9 năm 2025 về việc yêu cầu ly hôn của người khởi kiện là chị Bàn Thị Q, sinh năm 1996.

- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 17 tháng 9 năm 2025 về thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải sau đây: + Người khởi kiện: Chị Bàn Thị Q, sinh năm 1996. + Người bị kiện: Anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1993. Cùng nơi cư trú: Thôn L, xã P, tỉnh Tuyên Quang.

- Đơn đề nghị Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngay không chờ thời hạn theo quy định của chị Bàn Thị Q và anh Đặng Văn Đ.

- Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 17 tháng 9 năm 2025 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 17 tháng 9 năm 2025, cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bàn Thị Q và anh Đặng Văn Đ cùng nhất trí thuận tình ly hôn. Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2020 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (nay là UBND xã P, tỉnh Tuyên Quang) cấp ngày 13/3/2020 cho chị Bàn Thị Q và anh Đặng Văn Đ không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Chị Bàn Thị Q và anh Đặng Văn Đ cùng xác định vợ chồng có hai con chung là cháu Đặng Văn Đ, sinh ngày 03/9/2012 và cháu Đặng Thế V, sinh ngày 21/7/2022. + Giao con chung là cháu Đặng Thế V, sinh ngày 21/7/2022 cho chị Bàn Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; + Giao con chung là cháu Đặng Văn Đ, sinh ngày 03/9/2012 cho anh Đặng Văn Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Chị Bàn Thị Q và anh Đặng Văn Đ không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở, ngăn cấm; Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn.

- Về tài sản chung, đất đai chung: Chị Bàn Thị Q và anh Đặng Văn Đ cùng xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn.

- Về công nợ chung: Chị Bàn Thị Q và anh Đặng Văn Đ cùng xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn. 2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Cỡ chữ