- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Trung K khởi kiện Nguyễn Thanh T về tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Lê Trung K và bà Nguyễn Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 42/2024/QĐST-HNGĐ | TP. V, ngày 08 tháng 3 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 67/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Ông Lê Trung K. Địa chỉ: đường MB/C, Phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thanh T. Địa chỉ: đường MB/C, Phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 53, 55, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 29 tháng 02 năm 2024.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 29 tháng 02 năm 2024 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Lê Trung K và bà Nguyễn Thanh T.
2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về con chung: Ông Lê Trung K và bà Nguyễn Thanh T có ba người con tên là Lê Thị Trang N - sinh ngày 08/3/2001, Nguyễn Hoàng H - sinh ngày 07/01/2009 và Lê Nguyễn Nhã T - sinh ngày 04/5/2016. Hiện nay người con tên là Lê Thị Trang N đã đủ tuổi trưởng thành nên ông K và bà T không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Ông K và bà T thỏa thuận giao hai người con tên là Nguyễn Hoàng H và Lê Nguyễn Nhã T cho bà T nuôi dưỡng và giáo dục, ông K không phải cấp dưỡng nuôi hai người con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Ông Lê Trung K và bà Nguyễn Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Ông Lê Trung K và bà Nguyễn Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Ông Lê Trung K và bà Nguyễn Thanh T thỏa thuận.
Ông K tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0014942 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V; ông K được hoàn trả lại số tiền chênh lệch là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng).
Bà Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân TP V; - TAND tỉnh Vĩnh Long; - Chi cục THADS TP V; - UBND thị trấn TÔ; huyện TÔ, tỉnh Vĩnh Long; (Giấy CNKH số 12, quyển số 01/2001 ngày 19/4/2001) - Lưu hồ sơ vụ án. | (Đã ký) Nguyễn Hồng Quan |