- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Ngọc A.
- Căn cứ chính? Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Quyết định số 09/2021/QĐ-UBND Sửa đổi, bổ sung Phụ lục tiêu…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 42/2023/QĐ-TA | TP. Yên Bái, ngày 31 tháng 8 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Hòa
2. Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Huệ
Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 41/2023/QĐ-TA ngày 23 tháng 8 năm 2023, đối với:
Họ và tên: Phạm Ngọc A; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 19 tháng 7 năm 1978; CCCD số: 0150780xxxxxxx; cấp ngày 13-4-2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 10/12; nguyên quán: Thị trấn L, huyện Y, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ 05, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Phạm Xuân C (đã chết) và bà Phạm Thị M, sinh năm 1952; tiền án; tiền sự: Không. Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Hoàng Thanh - Cán bộ Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái: Ông Hoàng Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Phạm Ngọc A là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2003 đến nay. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái đã ra Quyết định số 09/2021/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường với thời hạn 03 tháng kể từ 25-01-2021. Phạm Ngọc A đã đăng ký cai nghiện tự nguyện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone. Ngày 29-5-2023 Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái đã ra Quyết định số 107/QĐ-UBND về việc Cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với Phạm Ngọc A. Ngày 29-5-2023 và ngày 20-7-2023, Công an phường Đ, thành phố Y tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Phạm Ngọc A, kết quả xét nghiệm dương tính với ma túy. A thừa nhận bản thân vẫn sử dụng trái phép chất ma túy các lần vào ngày 28-5-2023 và ngày 14-7-2023. Công an phường Đ, thành phố Y đã có công văn số 70/CV-CAP ngày 05-8-2023 đề nghị Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Yên Bái chấm dứt điều trị tại cơ sở điều trị nghiện chất. Ngày 16-8-2023 Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Yên Bái có công văn số 531/TTKSBT-CSĐTNC về việc chấm dứt điều trị với lý do: Bệnh nhân vi phạm khoản b mục 2 Điều 10 Nghị định số 90/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01-7-2016 về việc điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Ngày 16-8-2023, Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Y ra Thông báo số 42/TB-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ánh. Ngày 18-8-2023, Ủy ban nhân phường Đ, thành phố Y có văn bản đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Ngọc A.
Ngày 21-8-2023, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái ban hành Công văn số 209/LĐTBXH-TNXH chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Ngọc A.
Tại phiên họp:
Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái giữ nguyên đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Ngọc A với thời gian là 24 (hai mươi bốn) tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định biện pháp xử lý hành chính của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Yên Bái.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, có đủ cơ sở để xác định:
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được lập đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Điều 96, Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 26, Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021; Điều 41 Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Người bị đề nghị là Phạm Ngọc A đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Quyết định mở phiên họp nhưng vắng mặt tại phiên họp không có lý do. Căn cứ khoản 2 điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp theo thủ tục chung.
Phạm Ngọc A vắng mặt tại phiên họp nhưng qua các tài liệu trong hồ sơ thể hiện: A là đối tượng nghiện chất ma túy, đã bị áp dụng Quyết định quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 09/2021/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường với thời hạn 03 tháng kể từ 25-01-2021, Phạm Ngọc A đã đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Trong thời gian tự nguyện, mặc dù đã được động viên, giáo dục, giúp đỡ và bản thân A cũng nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng A vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy vào các ngày 28-5-2023 và ngày 14-7-2023 vi phạm khoản b mục 2 Điều 10 Nghị định số 90/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01-7-2016 về việc điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế; khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020; điểm c khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ. Do đó, việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Y lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Ngọc A là đúng quy định của pháp luật và cần thiết.
Trong quá trình lập hồ sơ, Phạm Ngọc A đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Ngọc A là có căn cứ, cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
Căn cứ khoản 2 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 10; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020;
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021; Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;
Căn cứ khoản 2 Điều 20; Điều 23; Điều 24 và Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Ngọc A.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Phạm Ngọc A có quyền khiếu nại; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái phối hợp với Công an thành phố Yên Bái có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND TP Yên Bái; - Công an TP Yên Bái; - Phòng LĐTB và XH TP Yên Bái; - Phòng Tư pháp TP Yên Bái; - UBND phường Đ, TP Y; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ; TA. | THẨM PHÁN Nguyễn Thế Hòa |