vanban.org

Quyết định 42/2021/DS-GĐT — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 07/07/2021 Dân sự Giám đốc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/07/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 91/2018/DS-PT ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định và Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2018/DS-ST ngày 13/4/2018 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định về “Tranh chấp về xác định tài sản chung vợ chồng và chia thừa kế di sản” …

Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định giải quyết sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Tranh chấp về xác định tài sản chung vợ chồng và chia thừa kế di sản"
  • Tòa quyết gì? Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 91/2018/DS-PT ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định và Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2018/DS-ST ngày 13/4/2018 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định về “Tranh chấp về xác định tài sản chung vợ chồng và chia thừa kế di sản” …
  • Căn cứ chính? Điều 337 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 345 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
--------------
Quyết định giám đốc thẩm

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 42/2021/DS-GĐT
Ngày 07/7/2021
Về “Tranh chấp về xác định tài sản
chung vợ chồng và chia thừa kế di sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng gồm có: 10 (mười) thành viên tham gia xét xử, do ông Đặng Kim Nhân – Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng làm Chủ tọa phiên tòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Hưởng – Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Dung - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 07/7/2021, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa giám đốc thẩm tại trụ sở để xét xử vụ án “Tranh chấp về xác định tài sản chung vợ chồng và chia thừa kế di sản” giữa:

1. Nguyên đơn: Cụ Lê Thị S, sinh năm 1930; cư trú: số X đường C, khu vực V, phường N, thị xã A, tỉnh B Định.

2. Bị đơn: Bà Phan Thị Lệ B, sinh năm 1961; cư trú: số L đường T, khu vực V, phường N, thị xã A, tỉnh B Định.

3 Người c quyền ợi, ngh a v iên quan:

3.1. Ông Phan Duy Tr, sinh năm 1955;

3.2. Bà Lê Thị Ph, sinh năm 1963;

Cùng địa chỉ: X đường C, khu vực V, phường N, thị xã A, tỉnh B Định.

3.3. Ông Phan Duy S1, sinh năm 1958; địa chỉ: N, thành phố Q, tỉnh B Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 31/7/2017 và quá trình tố t ng, nguyên đơn à c Lê Thị S trình bày:

Vợ chồng cụ S (chồng cụ S là cụ Phan Duy B) không nuôi con nuôi, không ai có con riêng mà có 05 con chung là: (1). ông Phan Duy L (chết lúc còn nhỏ chưa có vợ con); (2). ông Phan Duy H (chết năm 1970, chưa có vợ con); (3). ông Phan Duy Tr; (4). ông Phan Duy S1; (5). bà Phan Thị Lệ B. Quá trình chung sống, vợ chồng cụ S tạo lập được 2 khối bất động sản chung là: (1). Nhà đất tại số X C, khu vực V, phường N do vợ chồng Cụ tạo lập năm 1967. Ngày 25/4/2014 UBND thị xã A cấp Giấy chứng nhận quyền sở h u nhà ở và tài sản khác g n iền v i đất số CH 01080 cho “Phan Duy B và Lê Thị S”. Ngôi nhà phía mặt tiền thửa đất do 02 Cụ xây dựng để thờ cúng, còn phần nhà phía sau do vợ chồng con trai hai Cụ là ông Phan Duy Tr và bà Lê Thị Ph xây dựng; (2). Nhà đất tại số L đường T, khu vực V, phường N có nguồn gốc đất vợ chồng Cụ mua của Nhà nước. Thời điểm vợ chồng Cụ mua đất thì ông Phan Duy Tr đang ở chung nhà X C với hai Cụ nên chưa có hộ khẩu riêng, ông Phan Duy S1 ở Quy Nhơn, còn bà Phan Thị Lệ B bỏ chồng về ở với cha mẹ nên vợ chồng Cụ nhờ bà B đứng tên quyền sử dụng đất. Năm 2009 bà B tự nguyện lập Hợp đồng tặng cho sang tên thửa đất lại cho cụ B nên ngày 14/7/2009 Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) A cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất (số vào sổ cấp giấy chứng nhận H 03237/QSDĐ/I8 đứng tên cụ Phan Duy B. Căn nhà tại số L đường T do 02 Cụ xây dựng, bà B không có đóng góp. Cụ B chết ngày 22/9/2012, còn cha mẹ cụ B chết trước cụ B, nay cụ S khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế di sản của cụ B tại 02 khối bất động sản nêu trên theo pháp luật, Cụ đồng ý thanh toán giá trị nhà do vợ chồng con trai là ông Phan Duy Tr và bà Lê Thị Ph xây cất.

- Bị đơn là bà Phan Thị Lệ B:

Thống nhất với trình bày của cụ S về quan hệ huyết thống.

Về tài sản và di sản thì bà B cho rằng: (i). Cha mẹ chỉ có tài sản chung là nhà đất tại địa chỉ X C, phần nhà phía trước do cha mẹ xây dựng, còn phần nhà phía sau do vợ chồng ông Tr xây dựng năm 2013, 2014; (ii). Còn nhà đất tại địa chỉ số L T thì bà B cho rằng trước năm 1990 bà B ở cùng cha mẹ tại X C, nhưng do mâu thuẫn nên năm 1990 bà B tách hộ khẩu và làm đơn xin chính quyền cấp đất làm để làm nhà ra ở riêng. Ngày 16/12/1990 UBND huyện A ban hành Thông báo yêu cầu bà B nộp lệ phí cấp đất. Sau khi nộp tiền thì ngày 31/01/1992 UBND huyện A ban hành Quyết định số 40/QĐ-UB giao cho bà B 125m2 đất, thuộc lô số 25, thửa số 703, tờ bản đồ số 03, xã N (nay có địa chỉ số L đường T). Ngày 13/7/1992 bà B được UBND huyện A cấp Giấy phép xây dựng và bà B đã xây dựng nhà. Sau khi bà B xây dựng nhà thì từ năm 1992 cụ S đến ở cùng bà B, đến năm 1994 cụ B cũng đến ở cùng bà B. Ngày 11/12/2006 bà B được UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất (số vào sổ cấp giấy chứng nhận H 02682/QSDĐ/I8), nhưng năm 2009 do cụ B ép buộc nên bà B phải ký hợp đồng tặng cho nhà đất cho cụ B. Tất cả thủ tục tặng cho nhà đất do cụ B lập, bà B chỉ ký tên. Nay, cụ S khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ B thì bà B chỉ đồng ý chia thừa kế theo pháp luật di sản của cụ B tại địa chỉ số X C, còn nhà đất tại số L đường Trường Trinh là tài sản riêng của bà B.

- Người c quyền ợi, ngh a v iên quan à vợ chồng ông Phan Duy Tr và ông Phan Duy S1 (là 2 con trai của vợ chồng c S) thống nhất với trình bày và yêu cầu của cụ S.

- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2018/DS-ST ngày 13/4/2018, Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định quyết định:

1 ác định tài sản chung của vợ chồng ng Phan uy B và bà Lê Thị S gồm: nhà đất tại số 10 Trường hinh, khu vực V, phường N, thị x A, t nh B Định đ được BN huyện nay à thị x A cấp G N Đ số 03237/ Đ/I8 ngày 14/7/2009 đứng tên ng Phan uy B và nhà đất tại X C, khu vực V, phường N, thị x A, t nh B Định đ được BN huyện nay à thị x A cấp G N Đ quyền sở h u nhà ở và tài sản khác g n iền v i đất số

01080 ngày 25/4/2014 ch vợ chồng ng Phan uy B và bà Lê Thị S.

2 Tr ch c ng sức đ ng g p, duy trì bả quản tài sản tại nhà số 10 Trường hinh, khu vực V, phường N, thị x A, t nh B Định ch bà Phan Thị Lệ B b ng nhà đất à 62,5m2 đất ở 1/2 giá trị nhà à 21 846 950 đồng

3 hia tài sản chung của vợ chồng ng Phan uy B bà Lê Thị S m i người được nhà đất tại số 10 Trường hinh 31,25m2 đất ở và tài sản g n iền v i đất à 10 923 475 đồng

nhà đất tại X C (100m2 đất ở; 92,5m2 đất trồng cây âu năm, trị giá nhà 32 558 242 đồng

4 ác định c 04 đồng thừa kế ở hàng thứ 1 của ng Phan uy B gồm: vợ Lê Thị S , 03 người c n là ông Phan Duy Tr, ông Phan Duy S1, bà Phan Thị Lệ B.

5 hia di sản của ng Phan uy B ch các thừa kế: bà Lê Thị S, ông Phan Duy Tr, ông Phan Duy S1, bà Phan Thị Lệ B m i người được 01 k phần à 7,81m2 đất ở tại số 10 Trường hinh; 25m2 đất ở và 23,12m2 đất trồng cây âu năm tại số X C giá trị nhà t nh b ng tiền 10 870 429 đồng

6 Gia t àn b nhà, đất tại X C, khu vực V, phường N, thị x A, t nh B Định ch bà Lê Thị S Bà Lê Thị S c trách nhiệm thối ại ch các ng bà Phan uy Tr, Phan Duy S1, Phan Thị Lệ B m i người m t k phần thừa kế tại số nhà X C à 151.635.560đ

Bà S phải trả ại phần giá trị xây dựng ch vợ chồng ng Phan uy Tr bà Lê Thị Ph à 261 724 680 đồng

Gia t àn b nhà đất tại số 10 Trường hinh, khu vực V, phường N, thị x A, t nh B Định ch bà Phan Thị Lệ B.

Bà B c trách nhiệm h àn trả phần thừa kế ch ng Tr, ông S1 m i người 65 210 868 đồng; h àn trả ch bà S cả phần tài sản riêng và k phần thừa kế à 326 134 343 đồng

Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và tuyên bố quyền kháng cáo.

- Ngày 16/4/2018, bà B kháng cáo.

- Ngày 26/4/2018, cụ S kháng cáo.

- Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 91/2018/DS-PT ngày 30/11/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định quyết định:

h ng chấp nhận kháng cá của bà Phan Thị Lệ B, chấp nhận m t phần kháng cá của c Lê Thị S, sửa bản án sơ th m

ác định tài sản chung của vợ chồng c Phan uy B và c Lê Thị S gồm: nhà đất tại số L T, khu vực V, phường N, thị x A, t nh Bình Định đ được BN huyện nay à thị x A cấp G N Đ số 03237/ Đ/I8 ngày 14/7/2009, đứng tên Phan Duy B và nhà đất tại số X C, khu vực V, phường N, thị x A, t nh Bình Định đ được BN huyện nay à thị x A cấp G N Đ quyền sở h u nhà ở và tài sản khác g n iền v i đất số

01080 ngày 25/4/2014 ch vợ chồng c Phan uy B và c Lê Thị S.

hia tài sản chung của vợ chồng ch c Phan uy B và c Lê Thị S m i người được nhận 1/2 giá trị nhà và đất tại số L T à 702 542 125 đồng; 1/2 giá trị nhà và đất tại X C à 700 046 594 đồng

ác định c 04 đồng thừa kế ở hàng thứ 1 của c Phan uy B gồm: c Lê Thị S, ông Phan Duy Tr, ông Phan Duy S1, bà Phan Thị Lệ B.

hia di sản của c Phan uy B đối v i nhà và đất tại số L T ch các thừa kế: Lê Thị S, ông Phan Duy Tr, ông Phan Duy S1, bà Phan Thị Lệ B m i người được 01 k phần 12,5m2 x 11 000 000 đồng/m2 3 008 425đ giá trị nhà = 140 508 425 đồng Riêng bà B được nhận thêm m t k phần thừa kế ch c ng sức đ ng g p, bả quản di sản à 140 508 425 đồng

Gia t àn b nhà đất tại số L T, khu vực V, phường N, thị x A, t nh Bình Định ch bà Phan Thị Lệ B.

Bà B c trách nhiệm h àn trả ch c S phần tài sản riêng và k phần thừa kế là 75m2 đất ở x 11 000 000đ/m2 18 050 550 giá trị nhà = 843 050 550đ; gia ại phần thừa kế ch ng Tr và ông S1 m i người được nhận 140 508 425 đồng

hia di sản của c Phan uy B đối v i nhà và đất tại X C ch các thừa kế:

S, ông Tr, ông S1, bà B m i người được 01 k phần thừa kế à 25m2 đất ở x 6 000 000 đồng và 23,125m2 x 800 000 đồng/m2 đất trồng cây âu năm giá trị nhà 6 511 648đ = 175 011 648 đồng

Gia t àn b nhà, đất tại số X C, khu vực V, phường N, thị x A, t nh Bình Định ch c Lê Thị S. C Lê Thị S c trách nhiệm thối ại ch các ng bà Phan Duy Tr, Phan Duy S1, Phan Thị Lệ B m i người 01 k phần thừa kế tại nhà số X C là 175.007.648đ

S phải trả ại phần giá trị xây dựng ch vợ chồng ng Phan uy Tr, bà Lê Thị Ph à 245 366 887 đồng

Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

- Từ ngày 19/9/2019 đến ngày 23/3/2021 bà Phan Thị Lệ B gửi nhiều đơn đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án phúc thẩm nêu trên.

- Tại Quyết định số 17/2021/KN-DS ngày 26/4/2021, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án phúc thẩm, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử giám đốc thẩm hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 91/2018/DS-PT ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định và Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2018/DS-ST ngày 13/4/2018 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh B Định; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định giải quyết sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đối với nhà đất tại X C các đương sự trong vụ án đều thừa nhận quyền sử dụng đất và căn nhà phía trước do vợ chồng cụ S tạo lập, căn nhà phía sau do vợ chồng ông Phan Duy Tr (con trai vợ chồng cụ S) bỏ tiền xây dựng và ngày 25/4/2014 UBND thị xã A cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, quyền sở h u nhà ở và tài sản khác g n iền v i đất số sêri CH01080 cho cụ Phan Duy B và cụ Lê Thị S, do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chia tài sản chung của vợ chồng cụ S, chia thừa kế phần di sản của cụ B theo pháp luật là đúng.

[2] Cụ S trình bày nguồn gốc diện tích đất hiện nay có địa chỉ số L đường T do Chính quyền bán cho vợ chồng Cụ năm 1992, thời điểm 2 Cụ mua đất thì ông Phan Duy Tr ở chung với 2 Cụ tại X C và chưa tách hộ khẩu riêng, ông Phan Duy S1 thì ở Quy Nhơn, còn bà Phan Thị Lệ B bỏ chồng về ở với 2 Cụ nên 2 Cụ nhờ bà B đứng tên để UBND huyện A ghi tên bà B vào Quyết định giao đất; trong khi đó, bà B cho rằng trước năm 1990 bà B ở cùng cha mẹ tại X C, nhưng do mâu thuẫn nên năm 1990 bà B tách hộ khẩu và làm đơn xin, được Chính quyền giao 125m2 đất để làm nhà ở, bà B đã làm nhà ở và năm 2006 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng năm 2009 bị ép buộc ký Hợp đồng tặng cho cụ B nhà đất. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm xét thấy bà B cho rằng bị ép buộc ký Hợp đồng tặng cho, nhưng không nêu được căn cứ chứng minh, trong khi mẹ bà B là cụ S và các anh chị em của bà B không thừa nhận. Xét trình bày của cụ S là phù hợp với thực tế ngày 13/01/1992 Ủy ban nhân dân huyện A ban hành Quyết định số 40/QĐ-UB ghi tên giao 125m2 đất (là một phần của thửa đất số 703, tờ bản đồ số 03, xã N) cho bà B và ngày 11/12/2006 bà B được UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất (số vào sổ cấp GCN: H 02682/QSDĐ/I8) đối với 125m2 đất, thửa số 117, tờ bản đồ 01, nhưng ngày 09/6/2009 bà B ký Hợp đồng tặng thửa đất cho cụ B và ngày 14/7/2009 cụ B được UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất (số vào sổ cấp GCN: H 03237/QSDĐ/I8) công nhận có quyền sử dụng thửa số 117, tờ bản đồ 01, xã A (bl 76, 132, 138, 133). Với các tài liệu, chứng cứ nêu trên, cần xác định nguồn gốc 125m2 đất, thửa 117, tờ bản đồ số 01 do vợ chồng cụ S mua nhờ bà B đứng tên, chính vì vậy mà sau đó bà B đã ký Hợp đồng tặng cho thửa đất lại cho cụ B.

[3] Xét: (i). Khoản 1 Điều 32 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định“Vợ, chồng c quyền c tài sản riêng Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà m i người c trư c khi kết h n; tài sản được thừa kế riêng, được tặng ch riêng trong thời kỳ h n nhân;…”; (ii). Theo dẫn chứng và phân tích tại mục [2] thì nguồn gốc thửa đất số 117 do vợ chồng cụ S mua và nhờ bà B đứng tên; tuy nhiên, sau đó bà B tặng thửa đất lại cho cụ B và ngày 14/7/2009 cụ B được UBND huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất (số vào sổ cấp GCN: H 03237/QSDĐ/I8) nhưng cụ S không phản đối và đến nay đã hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất (số vào sổ cấp GCN: H 03237/QSDĐ/I8), do đó cần xác định quyền sử dụng thửa số 117, tờ bản đồ 01, thôn Cẩm Vân, xã A, huyện A là tài sản riêng của cụ B. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm nhận định “Mặc dù nhà đất tại số L T bà B tặng ch riêng c B, nhưng c B và c S kết hôn từ nh ng năm 1950 nên áp d ng Luật n nhân và gia đình năm 1959 “Vợ chồng đều c quyền sở h u, hưởng th và sử d ng ngang nhau đối v i tài sản c trư c và sau khi cư i” để xác định quyền sử dụng thửa đất số 117 là tài sản chung của vợ chồng cụ S, cụ B là áp dụng không đúng pháp luật vì theo nguyên tắc áp dụng pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì hành vi (sự kiện) xảy ra ở thời điểm nào phải áp dụng văn bản pháp luật có hiệu lực ở thời điểm đó (trừ trường hợp văn bản pháp luật có quy định khác - quy định về một vấn đề được áp dụng sớm hoặc hồi tố). Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định quyền sử dụng thửa đất số 117 là tài sản chung của vợ chồng cụ S, cụ B là không đúng, dẫn đến việc chia thừa kế di sản của cụ B không đúng làm ảnh hưởng quyền lợi hợp pháp của những người hưởng thừa kế di sản của cụ B (trong đó có bà B) nên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 17/2021/KN-DS ngày 26/4/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm, để giải quyết sơ thẩm lại.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 337, Điều 343 và Điều 345 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015:

1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 91/2018/DS-PT ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định và Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2018/DS-ST ngày 13/4/2018 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định về “Tranh chấp về xác định tài sản chung vợ chồng và chia thừa kế di sản” giữa nguyên đơn cụ Lê Thị S với bị đơn là bà Phan Thị Lệ B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phan Duy Tr, bà Lê Thị Ph và ông Phan Duy S1.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định giải quyết sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định.

Cỡ chữ