vanban.org

Quyết định 41/QĐ-TA

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 09/08/2017 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sơ tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Trần T có qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần T.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 41/QĐ-TAP, ngày 09 tháng 8 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

Với thành phần T hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Thanh Hà.

2. Thư ký phiên họp: Bà Đặng Thị Lệ Quyên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai T hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 41/QĐ-TA ngày 02 tháng 8 năm 2017 đối với:

Họ và tên: Trần T.

Sinh ngày 08 tháng 10 năm 1970.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Chỗ ở hiện nay: Không có nơi ở nhất định.

Nghề nghiệp: Làm nông.

Tiền án: 01; tiền sự: 03.

Con ông Trần Hữu N( đã chết) và bà Nguyễn Thị X ( đã chết).

Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hoàng Đức Tân - Chuyên viên của Phòng Lao động, Thương binh và xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai (theo văn bản ủy quyền số : 317/UQ-LĐTBXH ngày 07/8/2017).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai: Bà Đinh Thị Hoài Phương - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Trần T, sinh năm 1970, có hộ khẩu thường trú tại phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang nhưng đối tượng thường xuyên không cư trú tại địa phương. Trần T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy T sử dụng là nhóm thuốc phiện ( Hêroin), sử dụng dưới hình thức chích và hít. Bị phát hiện vào ngày 28/6/2017 ( theo biên bản vi phạm hành chính do Công an phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai lập vào ngày 29/6/2017).

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động, Thương binh và xã hội thành phố P là ông Hoàng Đức Tân đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy là đối tượng Trần T với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính và Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Nhất trí với hồ sơ đề nghị với của Phòng Lao động, Thương binh và xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng Trần T vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đầy đủ các tài liệu, giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị định 136/2016/ NĐ- CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.

Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn còn theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Trần T, sinh năm 1970, là đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, có hộ khẩu thường trú tại phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang nhưng không thường xuyên cư trú tại địa phương (theo biên bản xác minh ngày 17/7/2017) nên Trần T là đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị định 136/2016/ NĐ- CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường C lập hồ sơ đối với đối tượng Trần T là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Trần T được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.

Trần T, sinh năm 1970, có hộ khẩu thường trú tại phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang nhưng thường xuyên không cư trú tại địa phương và có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố P, loại ma túy T sử dụng là nhóm thuốc phiện (Hêroin), sử dụng dưới hình thức hít và chích. Ngày 29/6/2017 Công an phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai đã lập biên bản vi phạm hành chính. Tại đây T khai nhận bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 1995. Công an phường C đã đưa T đến Trạm y tế phường C, thành phố P xét nghiệm tình trạng nghiện của T và có kết quả dương tính với nhóm thuốc phiện (Heroin). Vì vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần T.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào các Điều 7, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và 108 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ vào các Điều 22, 23, 24, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ vào các Điều 3, 4, 8, 9 và 13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Nghị định số 136/2016/NĐ – CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sơ tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Trần T có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Cỡ chữ