vanban.org

Quyết định 41/QĐ-TA

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 31/12/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Tiến Đ.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 ( hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Tiến Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 19 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N B
TỈNH N B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 41/QĐ-TATPN B, ngày 31 tháng 12 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N B TỈNH N B

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1.Thẩm phán: Bà Dương Thị Phương

2.Thư ký phiên họp: Bà Tống Thị Huê

Ngày 31 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N B tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 39/QĐ-TA ngày 26 tháng 12 năm 2019

Họ và tên: Phạm Tiến Đ, sinh năm 1990.

Nguyên quán: xã Nghĩa Thái huyện Ngh H tỉnh N Đ

ĐKNKTT và chỗ ở: Phố Phúc Thịnh, phường B Đ, thành phố N B, tỉnh N B.

Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc : Kinh; Tôn giáo : Không

Nghề nghiệp: lao động tự do ; Con ông: Phạm Văn Đ, sinh năm 1955; con bà: Trịnh Thị M, sinh năm 1958;

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 10/7/2012 Công an phường N Kh thành phố N B ra quyết định số 11 xử lý vi phạm hành chính, phạt tiền 750.000đồng về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma túy”.

( Đối tượng vắng mặt tại phiên họp có lý do)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Vũ Thị Ngọc Ánh - Phó Trưởng phòng lao động thương binh và xã hội thành phố N B.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N B: Ông Giang Thanh Sơn – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ, hành vi vi phạm của Phạm Tiến Đ được thể hiện như sau :

Bản thân Phạm Tiến Đ là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2012, ngày 10/7/2012 Công an phường N Kh thành phố N B ra quyết định số 11 xử lý vi phạm hành chính là phạt tiền 750.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến nay Phạm Tiến Đ vẫn còn sử dụng trái phép chất ma túy. Đối tượng Đ không chịu lao động, thường quan hệ với những đối tượng xấu trong và ngoài địa bàn gây mất an ninh trật tự ở khu phố, khi sử dụng ma túy về, đối tượng Phạm Tiến Đỗ thường có biểu hiện ảo giác, sao đó đập phá đồ đạc của gia đình, đánh chửi bố, mẹ. Thời gian gần đây, đối tượng thường lấy tài sản của gia đình mang đi cắm ký để lấy tiền sử dụng ma túy. Mặc dù đã được Công an phường B Đ nhiều lần gọi lên cảm hóa, giáo dục để đối tượng từ bỏ chất ma túy nhưng Phạm Tiến Đ vẫn nghiện ma túy và không có biểu hiện của việc sửa chữa, từ bỏ.

Ngày 10/2/2018 Chủ tịch UBND phường B Đ có quyết định đưa vào diện cai nghiện tại gia đình và cộng đồng theo Nghị định 94/CP.

Ngày 20/8/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B Đ có quyết định đưa vào diện quản lý, giáo dục tại xã, phường theo Nghị định 111/CP.

Nhưng đối tượng Phạm Tiến Đ vẫn không từ bỏ được ma túy, lại thường xuyên mua ma túy về sử dụng, gây rối trật tự khu dân cư và trộm cắp tài sản, đã nhiều lần giáo dục, nhắc nhở nhưng vẫn tái phạm.

Ngày 28/11/2019 Công an phường B Đ triệu tập Phạm Tiến Đ lên trụ sở xét nghiệm tìm chất ma túy, kết quả Đỗ Dương tính (+) với chất ma túy đá.

Ngày 04/12/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B Đ lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Tiến Đ.

Đại diện cơ quan đề nghị trình bày hồ sơ và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố N B : Căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Nghị định 136/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Thông tư số 14/2014/TT-BLĐTBXH ngày 12/6/2014 của Bộ lao động thương binh và xã hội ban hành biểu mẫu về lập hồ sơ đề nghị, thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và hướng dẫn xây dựng nội quy, quy chế đối với học viên của cơ sở cai nghiện bắt buộc.

2

Căn cứ hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Tiến Đ do UBND phường B Đ thành phố N B lập và thông báo kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Tư pháp thành phố Ninh Bình. Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố N B đề nghị: Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Phạm Tiến Đ theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N B phát biểu ý kiến: Đối tượng bị đề nghị đủ điều kiện; hồ sơ đề nghị được lập đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, bảo đảm đầy đủ các tài liệu, chứng cứ theo quy định. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Tiến Đ .

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, xem xét tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình.

XÉT THẤY

Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Tiến Đ đã đảm bảo, đầy đủ các căn cứ, theo đúng quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Phạm Tiến Đ là đối tượng nghiện ma túy đã nhiều năm, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cai nghiện tại cộng đồng, nhưng vẫn không lấy đó làm bài học tu tỉnh bản thân, mà vẫn lao vào con đường nghiện ma túy; đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường theo Quyết định số 8 /QĐ-UBND ngày 20/8/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B Đ với thời hạn 3 tháng theo quy định tại Nghị định 111/2013/NĐ- CP ngày 30/9/2013 của Chính Phủ. Ngày 20/11/2019 Phạm Tiến Đ đã chấp hành xong thời hạn giáo dục, nhưng Đ vẫn không chịu từ bỏ ma túy mà vẫn còn nghiện, việc đối tượng nghiện ma túy đã nhiều năm gây khánh kiệt kinh tế gia đình, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, xã hội; thể hiện thái độ coi thường pháp luật trong việc rèn luyện, tu dưỡng bản thân và không có tiến bộ trong việc tự cai nghiện. Phạm Tiến Đ còn không chịu lao động, thường xuyên quan hệ với đối tượng xấu, gây mất an ninh trật tự ở khu phố; thường xuyên trộm cắp tài sản của gia đình đem đi cầm, ký để lấy tiền mua ma túy sử dụng.

3

Xét hành vi của Phạm Tiến Đ được quy định tại khoản 1 điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, nên cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Tiến Đ là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật; đồng thời tạo điều kiện cho Đỗ chữa bệnh, lao động, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc để Phạm Tiến Đ tu tỉnh bản thân, tích cực cai nghiện và để phòng ngừa chung cho xã hội.

Căn cứ Điều 95, khoản 1 Điều 96 và khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3; khoản 2 Điều 19, Điều 30, Điều 31, Điều 32 và Điều 33 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Tiến Đ.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 ( hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

3.1. Phạm Tiến Đ có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ( ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

3.2. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố N B có quyền kiến nghị quyết định này trong thời hạn 03(ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

3.3.Viện kiểm sát nhân dân thành phố N B có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Người khiếu nại phải gửi đơn đến Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ khiếu nại.

Cơ quan đề nghị kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp kháng nghị bằng văn bản trong đó nêu rõ lý do và căn cứ kiến nghị, kháng nghị gửi đến Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

4.Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

4

5.Công an thành phố N B chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố N B đưa người đi thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./. Nơi!nhận:!

Cỡ chữ