- Tranh chấp gì? "Vàng Thị M"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Thị M.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH ĐIỆN BIÊN ____________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 41/QĐ-TA | N, ngày 16 tháng 4 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Sao
2. Thư ký phiên họp: Ông Lò Văn Hương.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 45/2024/QĐ-TA, ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với:
Họ và tên: Vàng Thị M; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ;
Sinh ngày 07/8/1976; Nghề nghiệp: Làm nương;
Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không;
Nơi cư trú: Bản C4, xã C, huyện N, tỉnh Điện Biên;
Số CCCD: 011176001xxx; Ngày cấp: 24/4/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Con ông Vàng A S (đã chết) và bà Thào Thị G (đã chết).
Người bị đề nghị Vàng Thị M có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N: Ông Lầu A Gấu - Phó Trưởng phòng, có mặt.
2. Đại diện Viện kiểm sát huyện N, tỉnh Điện Biên: Ông Nguyễn Tiến Khôi - Kiểm sát viên, có mặt.
NHẬN THẤY:
Vàng Thị M nghiện ma túy từ năm 2004. Ngày 18/11/2022, M đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng với thời hạn 06 tháng, đến ngày 18/5/2023 M đã hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện, theo Giấy xác nhận số 02/GXN-CNTN của Ủy ban nhân dân xã C. Tuy nhiên, trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, M lại tái nghiện (theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, ngày 01/4/2024 của Trạm Y tế xã C). Ngày 01/4/2024, Ủy ban nhân dân xã C đã lập Biên bản vi phạm về quản lý sau cai nghiện ma túy số 04/BB-VPHC. Ngày 02/04/2024, Ủy ban nhân dân xã C đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Thị M.
Tại phiên họp đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện N có ý kiến: Vàng Thị M là người nghiện ma túy, đã hoàn thành cai nghiện ma túy tại gia đình, công đồng nhưng trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, M vẫn tái nghiện, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của M và trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải tiếp tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Thị M, để M cai nghiện, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Thị M với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Vàng Thị M đầy đủ, đảm bảo về thời hiệu, thẩm quyền và trình tự theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020; Luật Phòng, chống ma túy và Nghị định 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy; Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Quá trình thụ lý, giải quyết Tòa án nhân dân huyện N đã thực hiện đúng theo quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện N chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Vàng Thị M với thời hạn với thời hạn là từ 18 đến 24 tháng.
Tại phiên họp người bị đề nghị Vàng Thị M có ý kiến: Vàng Thị M là người nghiện ma túy, M nhất trí đi cai nghiện bắt buộc.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và ý kiến của những người tham gia phiên họp thấy:
[1] Về thẩm quyền: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N là cơ quan đề nghị Tòa án nhân dân huyện N xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Vàng Thị M. Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án dân dân, Tòa án nhân dân huyện N thụ lý, xem xét, quyết định là đúng thẩm quyền.
Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính số 04/BB-VPHC, ngày 01/4/2024 của Ủy ban nhân dân xã C đối với Vàng Thị M về quản lý sau cai nghiện ma túy, ngày 09/4/2024 Tòa án thụ lý hồ sơ nên vẫn còn thời hiệu áp dụng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Về nội dung xem xét: Vàng Thị M có nơi cư trú ổn định tại bản C 4, xã C, huyện N, tỉnh Điện Biên và là người nghiện ma túy từ năm 2004. Vàng Thị M hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng nhưng trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, M lại tái nghiện. Căn cứ khoản 4 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy, Vàng Thị M là đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Về thành phần hồ sơ đề nghị gồm: Biên bản vi phạm về quản lý sau cai nghiện ma túy; bản tóm tắt lý lịch của Vàng Thị M; 01 Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế xã C; 01 bản tường trình của Vàng Thị M; Văn bản thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị; Văn bản đề nghị của Chủ tịch ủy ban nhân dân xã C; Văn bản đề nghị của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N. Căn cứ vào Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy thì hồ sơ đề nghị đã đảm bảo đầy đủ, đúng quy định.
Xét thấy, Vàng Thị M là người đã thành niên, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn nghiện ma túy, mặc dù đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy nhưng M lại tái nghiện nên phải chịu trách nhiệm về hành vi sai phạm. Do đó, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Thị M một thời hạn nhất định, để M trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Quá trình làm việc Vàng Thị M đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính và M không có tình tiết tăng nặng.
Đối với đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, ý kiến của Vàng Thị M là phù hợp, Tòa án nhân dân huyện N chấp nhận.
Căn cứ khoản 1 Điều 3, Điều 23, khoản 1 Điều 24, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, khoản 2 Điều 105, Điều 106, Điều 107, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020; Khoản 4 Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy; Khoản 1 Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy thì hồ sơ đề nghị đã đảm bảo đầy đủ, đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Thị M.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Vàng Thị M có quyền khiếu nại; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện N có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện N phối hợp với Công an huyện N đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên, địa chỉ: C1, xã Thanh Luông, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).
| Nơi nhận: - Phòng KTNV& THA - TAND tỉnh; - VKSND huyện N; - Cơ sở cai nghiện ma tuý tỉnh Điện Biên; - Phòng LĐ - TB&XH huyện N; - Công an huyện N; - UBND xã C; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Phạm Thị Sao |