- Tranh chấp gì? "Ly A L"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Ly A L ( tên gọi khác: không).
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Số: 41/2023/QĐ - TA | Điện Biên Đông, ngày 28 tháng 4 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Nga
2. Thư ký phiên họp: Bà Cà Thị Phương
Ngày 28/4/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 48/QĐ -TA ngày 20/4/2023 đối với:
Họ và tên: Ly A L; Tên gọi khác: không; Giới tính: nam
Sinh năm 1985; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: không;
Trình độ văn hóa: 09/12; Số căn cước công dân: 011085002261; Ngày cấp: 28/4/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH, Bộ Công an.
Nơi cư trú: Bản P, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: nông nghiệp.
Tiền án: không; tiền sự: không.
Nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Con ông: Ly A T và bà Khá Thị V.
Có mặt tại phiên họp
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Vừ A D – Phó trưởng phòng LĐ - TB & XH huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Theo văn bản ủy quyền số 05 ngày 28/4/2023 của Trưởng phòng LĐ-TB&XH huyện Đ)
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông: Bà Trịnh Thị D
- Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
1. Hành vi của Ly A L và quá trình xây dựng hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau:
Ngày 20/2/2023 Ly A L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 34/QĐ-UBND ngày 20/2/2023 trong thời hạn 01 năm. Trong quá trình bị quản lý, ngày 19/3/2023 Ly A L tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an xã N có giấy đề nghị Trạm y tế xã N, huyện Đ xác định tình trạng nghiện ma túy của Ly A L. Tại phiếu kết quả ngày 24/3/2023 xác định Ly A L nghiện ma túy (loại Heroine)
Căn cứ vào kết quả Ly A L nghiện chất ma túy, Chủ tịch UBND xã N ban hành Quyết định số 35/QĐ-UBND ngày 24/3/2023 dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và vận động Ly A L đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng Ly A L không đồng ý.
Ngày 31/3/2023, Công an xã N lập biên bản vi phạm đối với Ly A L về hành vi người nghiện ma túy không đăng ký cai nghiện tự nguyện vi phạm điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Công an xã N lập hồ sơ đưa Ly A L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 05/4/2023 Chủ tịch UBND xã N có Thông báo số 03/TB-UBND thông báo về việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Ly A L và giao tài liệu hồ sơ cho Ly A L nghiên cứu theo quy định.
Ngày 11/4/2023, Chủ tịch UBND xã N quyết định số 40/QĐ-QLNN giao Ly A L cho gia đình quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 17/4/2023, Chủ tịch UBND xã N có đề nghị số 03/ĐN-CNBB đề nghị Trưởng phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Đ xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ly A L với lý do người nghiện ma túy không đăng ký cai nghiện tự nguyện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Ngày 18/4/2023, Trưởng phòng LĐ-TB&XH huyện Đ ban hành văn bản đề nghị số 46/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ly A L.
Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị trình bày ý kiến: Ly A L là người trên 18 tuổi, nghiện chất ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, hành vi này đã vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Bản thân Ly A L chưa tiền án, tiền sự; đã tự nguyện khai báo hành vi nghiện ma túy. Do đó đề nghị Tòa án đưa Ly A L đi cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 đến 24 tháng. Tại trung Tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Điện Biên (Địa chỉ: C1, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên).
Đại diện VKSND huyện Điện Biên Đông có ý kiến: Thủ tục pháp lý hồ sơ của Ly A L đầy đủ, đảm bảo về đối tượng, thời hiệu, thẩm quyền theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Quá trình thụ lý, giải quyết Tòa án, cơ đề nghị, người bị đề nghị đã thực hiện đúng theo pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng lao động thương binh và xã hội huyện Đ, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ly A L.
Ý kiến của người bị đề nghị Ly A L: Khai nhận nghiện ma túy từ năm 2017, không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện do không có bản lĩnh cai nghiện, tại phiên họp nhất trí đi cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Đ.
XÉT THẤY:
Xét trình tự thủ tục pháp lý của hồ sơ đề nghị: Đã đảm bảo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hạn quy định điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 103, 104, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Điều 40; Điều 41; Điều 42; Điều 43; Điều 44 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.
Xét căn cứ đề nghị thấy rằng: Ly A L là người trên 18 tuổi, nghiện chất ma túy từ năm 2017, đã được tuyên truyền giáo dục nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, hành vi này đã vi phạm khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy và điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện. Do đó, Chủ tịch UBND xã N lập hồ sơ đề nghị Trưởng phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Đ đưa Ly A L đi cai nghiện bắt buộc là có căn cứ. Việc đưa Ly A L đi cai nghiện bắt buộc sẽ đảm bảo cho chính đối tượng nghiện chất ma túy có cơ hội cai nghiện sau này trở về địa phương tham gia lao động sản xuất giúp đỡ gia đình, mặt khác sẽ góp phần giữ vững ổn định trật tự xã hội trên địa bàn huyện Điện Biên Đông.
Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng thấy rằng: Ly A L đã tự nguyện khai báo hành vi vi phạm nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Ly A L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính.
Xét nhân thân, mức độ nhận thức: Ly A L là người chưa có tiền án, tiền sự. Bản thân đã xây dựng gia đình riêng nhưng không tu dưỡng bản thân làm tấm gương cho con cái noi theo mà nghiện ma túy do đua đòi bè bạn, nghiện từ năm 2017 đến nay không đủ bản lĩnh tự cai nghiện và không đăng ký cai nghiện tự nguyện cho nên cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong một thời gian nhất định để cai nghiện cho Ly A L.
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy;
- Điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020);
- Điều 3, Điều 8, Điều 17; Điều 21; Điều 23, Điều 24, Điều 30; Điều 31 và Điều 32 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Ly A L ( tên gọi khác: không).
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung Tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Điện Biên (Địa chỉ: C1, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên).
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày 28/4/2023, anh Ly A L có quyền gửi đơn khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đ có quyền gửi văn bản kiến nghị, Viện kiểm sát huyện Đ có quyền kháng nghị quyết định này bằng văn bản gửi đến Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Đ, tỉnh Điện Biên phối hợp với Công an huyện Đ đưa Ly A L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung Tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Điện Biên (Địa chỉ: C1, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Đ; - Cơ sở cai nghiện; - Phòng LĐ- TB&XH huyện Đ; - UBND xã N; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ | THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Thị Nga |