- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "ông Trương Nguyễn Nhật Linh yêu cầu tuyên bố bà Đào Thị Huế Thanh mất tich"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trương Nguyễn Nhật L về việc yêu cầu tuyên bố bà Đào Thị Quế T, sinh năm: 1989; nơi cư trú cuối cùng: ấp PB, xã VB, huyện CL, tỉnh BT mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BT Số: 41/2021/QĐST-VDS |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CL
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Chủ tọa phiên họp: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện CL.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lệ Duyên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 04 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh BT mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 144/2020/TLST-VDS ngày 07 tháng 10 năm 2020 về yêu cầu “tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 34/2021/QĐPH-VDS ngày 08 tháng 4 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: ông Trương Nguyễn Nhật L, sinh năm: 1985; địa chỉ: ấp TL2, xã TA, huyện CĐ, thành phố CT, tỉnh CT. Ông L có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đào Thị Quế T, sinh năm 1989; Nơi cư trú cuối cùng: ấp PB, xã VB, huyện CL, tỉnh BT. vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Mặc dù ông L vắng mặt nhưng tại đơn yêu cầu ngày 18/9/2020 ông L trình bày: Vào năm 2013 ông Nhật L và bà Đào Thị Quế T do quen biết tìm hiểu, tự nguyện tiến tới hôn nhân không ai ép buộc, không có tổ chức lễ cưới, nhưng có đăng ký kết hôn tại UBND xã VB vào ngày 04/11/2013. Sau khi cưới ông bà sống hạnh phúc khoảng 03 năm đến năm 2016 không rõ lý do gì mà bà T bỏ nhà đi cho đến nay, không liên lạc gì về cho gia đình, không biết được bà T đã đi đâu. Ông L rất nhiều lần tìm kiếm nhưng không có kết quả, ông đã áp dụng các biện pháp đăng tin, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức gì của bà T.
Vì vậy, nay ông L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện CL tuyên bố bà T mất tích.
Lý do, mục đích yêu cầu là để ông L làm thủ tục yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T.
Tại phiên họp, vị đại diện Viên kiểm sát phát biểu ý kiến giải quyết việc dân sự như sau:
Về tố tụng: Tòa án ra thông báo thụ lý và chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát đúng hạn luật định.
Về nội dung: đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Trương Nguyễn Nhật L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện CL, tỉnh BT nhận định:
[1]. Về tố tụng: ông Trương Nguyễn Nhật L có đơn yêu cầu tuyên bố bà Đào Thị Quế T, sinh năm 1989; nơi cư trú cuối cùng: ấp PB, xã VB, huyện CL, tỉnh BT mất tích nên đây là việc dân sự về việc “yêu cầu tuyên bố một người mất tích” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện CL theo qui định tại Điều 27, Điều 387, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015.
Ông L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa tiến hành mở phiên họp vắng mặt ông là phù hợp với qui định tại Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Xét yêu cầu của ông Trương Nguyễn Nhật L về việc yêu cầu Tòa tuyên bố bà Đào Thị Quế T mất tích cho thấy:
Tại đơn xin xác nhận nơi cư trú đề ngày 12/8/2020 thì địa phương cũng đã xác nhận bà Đào Thị Quế T đã bỏ địa phương, không xác định được nơi cư trú khoảng 4 năm nay. Ông L cũng đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm như thông báo tìm kiếm vắng mặt nơi cư trú, đăng tin trên báo đài nhưng vẫn không có tin tức gì về bà T sống hay chết và đang cư trú ở đâu.
Do đó, việc ông L yêu cầu tuyên bố bà T mất tích là có cơ sở theo qui định tại Điều 68 Bộ luật dân sự nên chấp nhận.
[3]. Từ các căn cứ trên, xét thấy yêu cầu của ông Nhật Linh và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với qui định của pháp luật nên chấp nhận.
[4].Theo qui định tại Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải chịu lệ phí sơ thẩm không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận đơn yêu cầu của họ. Do đó, người yêu cầu phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 27, Điều 35, 387, 389 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên:
Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trương Nguyễn Nhật L về việc yêu cầu tuyên bố bà Đào Thị Quế T, sinh năm: 1989; nơi cư trú cuối cùng: ấp PB, xã VB, huyện CL, tỉnh BT mất tích.
Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Buộc ông Trương Nguyễn Nhật L phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là: 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng). Số tiền mà ông L đã nộp tạm ứng lệ phí theo biên lai số 0001771, ngày 05 tháng 10 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL được chuyển sang lệ phí.
Quyết định này đương nhiên hết hiệu lực trong trường hợp người cần tìm kiếm trở về.
Ông Trương Nguyễn Nhật L có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2021. Bà Đào Thị Quế T có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo qui định của pháp luật. Nơi nhận:
Thẩm phán
- VKSND huyện CL;
- Cơ quan THADS huyện CL;
- Người yêu cầu;
- UBND xã VB;
- Lưu hồ sơ việc dân sự.
Lê Thị Thúy Hằng