vanban.org

Quyết định 402/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/11/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H: Tuyên bố ông Đỗ Trung O, sinh năm 1964; nơi cư trú cuối cùng:, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích.

2/ Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Đỗ Trung O được giải quyết theo quy định của pháp luật. 3/ Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu phải chịu 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí bà Nguyễn Thị H đã nộp là 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) theo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "viec dan su thuan tinh ly hon"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H: Tuyên bố ông Đỗ Trung O, sinh năm 1964; nơi cư trú cuối cùng:, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 402/2020/QĐST-DS
Gò Vấp, ngày 30 tháng 11 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Hoàng Thế Viễn

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phương – Thư ký tòa án, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Bá Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 159/2020/TLST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 56/2020/QĐST-DS, ngày 16 tháng 11 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Nguyên yêu cầu: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; địa chỉ:, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Trần Quang M; địa chỉ:, Phường B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

- Người bị yêu cầu: Ông Đỗ Trung O, sinh năm 1964; nơi cư trú cuối cùng: 369 Phạm Văn Chiêu, Phường 14, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Trung T, sinh năm 1989; anh Đỗ Trung T1, sinh năm 1998; cùng địa chỉ:, Phường T, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo ủy quyền của anh T, anh T1: Ông Trần Quang M; địa chỉ:, Phường B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ việc dân sự, Tòa án nhận thấy yêu cầu của đương sự như sau:

Bà Nguyễn Thị H có đăng ký kết hôn với ông Đỗ Trung O ngày 01 tháng 8 năm 1989 tại Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, vợ chồng có 02 con chung là Đỗ Trung T, sinh ngày 26 tháng 02 năm 1989 và Đỗ Trung T1, sinh ngày 25 tháng 02 năm 1998. Đến năm 2012, do mâu thuẫn vợ chồng nên ông O đã đi khỏi nhà, đi đâu không rõ, từ đó đến nay bà H đã cố gắng tìm kiếm nhưng không biết ông O ở đâu. Bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông O mất tích để có cơ sở giải quyết ly hôn với ông O.

Bà H ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án để giải quyết việc tuyên bố ông Đỗ Trung O mất tích cho ông Trần Quang M.

Tại phiên họp: Ông Trần Quang M vắng mặt, nhưng trong đơn xin vắng mặt tại phiên họp, ông M vẫn giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông O mất tích.

Để giải quyết yêu cầu của người yêu cầu, Tòa án căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc này và ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, việc thông báo này đã được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:

- Về thủ tục tố tụng: Đây là việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích, do ông O có nơi cư trú cuối cùng tại quận G, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, trong quá trình giải quyết, Tòa án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đã giao thông báo thụ lý, các văn bản và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng thời hạn.

- Về nội dung: Do ông O đã đi khỏi địa chỉ nơi cư trú cuối cùng:, Phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2012 đến nay không có tin tức gì mặc dù đã được thông báo tìm kiếm bằng nhiều phương tiện thông tin. Vì vậy, việc người yêu cầu giải quyết việc dân sự về yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với ông O để có cơ sở giải quyết ly hôn với ông O là phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

- Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015

- Căn cứ Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đề nghị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Đỗ Trung O, sinh năm 1964; nơi cư trú cuối cùng:, Phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp nhận định:

Xét đơn yêu cầu của người yêu cầu Tòa án tuyên bố ông O mất tích là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Theo xác nhận của Công an phường M quận G thì ông O không còn cư trú tại địa chỉ:, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2012 đến nay, hiện nay ông O cư trú ở đâu không rõ. Thông tin tìm kiếm ông O được đăng trên báo Lao động trong các số ra ngày 09, ngày 10, ngày 11 tháng 7 năm 2020 và phát thanh trên Đài tiếng nói Việt Nam trong các ngày 13, ngày 14, ngày 15 tháng 7 năm 2020, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo luật định, nhưng cho đến nay đã hết thời hạn pháp luật quy định nhưng ông O vẫn không có tin tức gì. Như vậy, xác định nơi cư trú cuối cùng của ông O là địa chỉ:, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và ông O đã biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù bà H đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức gì của ông O nên bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông O mất tích là có cơ sở để chấp nhận.

Người yêu cầu phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm là 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) theo Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 21, khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

1/ Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H: Tuyên bố ông Đỗ Trung O, sinh năm 1964; nơi cư trú cuối cùng:, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích.

2/ Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Đỗ Trung O được giải quyết theo quy định của pháp luật.

3/ Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu phải chịu 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí bà Nguyễn Thị H đã nộp là 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số AA/2019/0026070 ngày 15 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Người yêu cầu đã nộp đủ lệ phí.

4/ Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ