vanban.org

Quyết định 40/2026/QĐ-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/03/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 17/2025/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: ông Mai Văn Q, bà Hồ Thị T; cùng địa chỉ: thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên (nay là thôn T, phường S, tỉnh Đắk Lắk). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: ông Trần Danh T1, Luật sư Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh Đ). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? I. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 17/2025/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:
  • Căn cứ chính? Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 40/2026/QĐ-PTĐà Nẵng, ngày 25 tháng 3 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Đức Kiên

Các Thẩm phán:

ông Trần Quốc Cường

bà Võ Thị Ngọc Dung

Sau khi xét xử sơ thẩm, Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên (nay là Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk) bị kháng cáo như sau:

Ngày 24/6/2025, bị đơn ông Lê Văn Đ, bà Hồ Phúc P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị L kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa phúc thẩm lần thứ nhất (ngày 20/01/2026), người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Lê Văn Đ, bà Hồ Phúc P là bà Huỳnh Thị Mỹ D vắng mặt và có Đơn xin hoãn phiên toà; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo là bà Hồ Thị L vắng mặt nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa phúc thẩm lần thứ 2 (ngày 02/2/2026), người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Lê Văn Đ, bà Hồ Phúc P là bà Huỳnh Thị Mỹ D vắng mặt và có Đơn xin hoãn phiên toà; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo là bà Hồ Thị L vắng mặt, bà L đã nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập phiên toà. Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa phúc thẩm lần thứ 3 (ngày 25/3/2026), bị đơn ông Lê Văn Đ, bà Hồ Phúc P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo là bà Hồ Thị L vắng mặt trong khi ông Đ, bà P, bà L đều đã nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập phiên toà; bà Huỳnh Thị Mỹ D có văn bản thông báo về chấm dứt việc uỷ quyền tham gia tố tụng trong vụ án giữa ông Đ, bà P với bà D.

Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án, vì người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần mà vắng mặt tại phiên toà.

Như vậy, cả bị đơn, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần (03 lần) nhưng vẫn vắng mặt. Việc vắng mặt tại phiên toà lần thứ ba của những người có kháng cáo là ông Đ, bà P, bà L mà không thuộc trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan nên được coi là từ bỏ quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 289; khoản 3 Điều 296 và khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

I. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 17/2025/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Mai Văn Q, bà Hồ Thị T; cùng địa chỉ: thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên (nay là thôn T, phường S, tỉnh Đắk Lắk).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: ông Trần Danh T1, Luật sư Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh Đ).

- Bị đơn:

+ Ông Lê Văn Đ, bà Hồ Phúc P

+ Ông Hồ P1 (đã chết)

Cùng địa chỉ: thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn T, xã T, tỉnh Đắk Lắk).

Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Hồ P1:

1. Bà Hồ Phúc P2

2. Ông Hồ Phúc P3

3. Bà Hồ Phúc P

Cùng địa chỉ: thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn T, xã T, tỉnh Đắk Lắk).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: ông Nguyễn Hương Q1, Luật sư Văn phòng L2, Đoàn luật sư tỉnh Đ).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Yên.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đắk Lắk;

2. Bà Hồ Thị L, sinh năm 1952;

3. Ông Hà Văn K, sinh năm: 1975;

4. Ông Hà Văn K1, sinh năm: 1977;

5. Ông Hà Văn D1, sinh năm: 1980;

6. Ông Hà Văn N, sinh năm: 1985;

7. Bà Hà Thị Kim T2, sinh năm: 1988;

8. Bà Hà Thị Kim T3, sinh năm: 1992;

9. Ông Hà Văn T4, sinh năm: 1991;

Cùng địa chỉ: thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên (nay là thôn T, xã T, tỉnh Đắk Lắk).

10. Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện T.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Ngọc H; chức vụ: Trưởng Phòng giao dịch A.

11. Ủy ban nhân dân xã A (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đắk Lắk).

II. Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên Yên (nay là Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk) có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định này.

III. Án phí phúc thẩm: căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Ông Lê Văn Đ, bà Hồ Phúc P phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0000476 ngày 29/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk. Ông Đ, bà P đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

- Bà Hồ Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0000054 ngày 04/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk. Bà L đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

IV. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án có hiệu lực thi hành án.

Cỡ chữ