- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản chung — án dân sự — "VỤ ÁN DÂN SỰ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Căn cứ chính? Điều 337 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 342 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI Quyết định giám đốc thẩm | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 40/2021/DS-GĐT Ngày: 23-6-2021 V/v tranh chấp chia tài sản chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân;
Các thành viên: - Ông Hồ Đình Trung;
- Ông Nguyễn Văn Sơn.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Minh Trang – Thẩm tra viên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm vụ án “Tranh chấp chia tài sản chung ” giữa:
- Nguyên đơn: Cụ Đ, sinh năm 1947; cư trú tại tổ 1, xóm W, thị trấn X, huyện M, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền là bà Y (theo Giấy ủy quyền ngày 24/02/2020).
- Bị đơn: Anh H, sinh năm 1996; cư trú tại tổ 1, xóm W, thị trấn X, huyện M, thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà A, sinh năm 1969; cư trú tại tổ 1, xóm W, thị trấn X, huyện M, thành phố Hà Nội.
2. Bà Y, sinh năm 1970; cư trú tại số 23, phố Y1, phường Y2, quận Y3, thành phố Hà Nội.
3. Bà S, sinh năm 1972; cư trú tại nhà số 24, ngõ 1, đường S1, huyện M, thành phố Hà Nội.
4. Bà D, sinh năm 1974; cư trú tại xóm 2, D1, phường D2, quận D3, thành phố Hà Nội.
5. Chị G, sinh năm 1996.
6. Cháu K, sinh năm 2018.
Đều cư trú tại tổ 1, xóm W, thị trấn X, huyện M, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/01/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cụ Đ (bà Y đại diện theo ủy quyền) trình bày:
Vợ chồng cụ P (chết năm 2014), cụ Đ sinh được 05 người con chung là bà A, bà Y, bà S, bà D, ông J (chết năm 2005). Ông T có con trai là anh H.
Cụ Đ và cụ T tạo lập được thửa đất số 57-2, tờ bản đồ số 34, diện tích 62,68m2 sử dụng riêng và 21,3m2 sử dụng chung, tọa lạc tại tổ 1, xóm W, thị trấn X, huyện M, thành phố Hà Nội, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2005 mang tên cụ P, cụ Đ; trên đất có ngôi nhà hai tầng.
Ngày 12/3/2012, tại Văn phòng công chứng D3, cụ T và cụ Đ lập di chúc chung với nội dung cho cháu trai là anh H (con của ông J) có toàn quyền sử dụng, sang tên khối tài sản là nhà đất nêu trên của hai cụ.
Sau khi cụ T chết, ngày 26/10/2019, tại Văn phòng công chứng L, cụ Đ và anh H lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế với nội dung anh H được hưởng toàn bộ phần di sản thừa kế của cụ T để lại; cụ Đ và anh H là đồng sở hữu, sử dụng diện tích nhà đất. Ngày 14/11/2019, cụ Đ và anh H được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích 84m2 đất (trong đó có 62,7m2 sử dụng riêng và 21,3m2 ngõ đi chung), thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, mang tên cụ Đ, anh H.
Cụ Đ khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung giữa cụ Đ với anh H; đề nghị được sử dụng nhà đất và thanh toán giá trị tài sản cho anh H số tiền là 1.400.000.000 đồng. Nếu anh H không đồng ý thì đề nghị Tòa án giải quyết theo giá của Hội đồng định giá đã xác định là 40.000.000 đồng/m2 đất.
Bị đơn anh H trình bày: Cụ Đ và gia đình anh hiện đang cùng sinh sống tại nhà đất này. Anh xác định, thửa đất không thể chia đôi theo hiện vật, anh có nguyện vọng được nhận nhà đất và thanh toán cho cụ Đ số tiền 1.500.000.000 đồng. Nếu cụ Đ muốn nhận nhà đất thì phải thanh toán cho anh với giá 75.000.000 đồng/m2 tương đương 2.325.000.000 đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà A, bà Y, bà S, bà D thống nhất trình bày: Các bà không còn liên quan gì đến tài sản tranh chấp, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, đảm bảo cho cụ Đ có chỗ ở, có nơi thờ cúng cụ T.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 22/7/2020, Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Đ đối với anh H.
Xác định tài sản chung của cụ Đ và anh H là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất tại thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, địa chỉ tại tổ 1, khu xóm W, thị trấn X, huyện M, thành phố Hà Nội có tổng trị giá là 2.780.396.830 đồng. Cụ Đ và anh H mỗi người có quyền sở hữu 1/2 tài sản chung trị giá là 1.390.198.415 đồng.
Chia tài sản chung của cụ Đ và anh H như sau: Giao cho cụ Đ được sở hữu, sử dụng toàn bộ nhà đất tại thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, địa chỉ tại tổ 1, khu xóm W, thị trấn X, huyện M, thành phố Hà Nội (có sơ đồ hiện trạng nhà đất kèm theo bản án). Cụ Đ có nghĩa vụ thanh toán cho anh H 1/2 tài sản chung có trị giá là 1.390.198.415 đồng.
Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, anh H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Quá trình giải quyết phúc thẩm, anh H vẫn đề nghị được nhận nhà đất và có nguyện vọng để cụ Đ ở cùng gia đình anh cho đến khi cụ qua đời.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 438/2020/DS-PT ngày 24/11/2020, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh H.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 22/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện M, cụ thể như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Đ đối với anh H.
2. Xác định tài sản chung của cụ Đ và anh H là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất tại thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, địa chỉ tại tổ 1, khu xóm W, thị trấn X, huyện M, thành phố Hà Nội, diện tích 84m2, trong đó có 62,7m2 sử dụng riêng và 21,3m2 ngõ đi chung, tổng trị giá là 2.780.396.830 đồng. Cụ Đ và anh H mỗi người có quyền sở hữu, sử dụng 1/2 tài sản chung có trị giá 1.390.198.415 đồng.
3. Chia tài sản chung của cụ Đ và anh H cụ thể như sau:
Anh H được sở hữu, sử dụng toàn bộ nhà đất tại thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, địa chỉ tại tổ 1, khu xóm W, thị trấn X, huyện M, thành phố Hà Nội (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 939809 ngày 14/11/2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cấp mang tên cụ Đ, anh H).
Anh H có nghĩa vụ thanh toán cho cụ Đ 1/2 tài sản chung có giá trị là 1.390.198.415 đồng.
Anh H có quyền, nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh (hoặc đổi, cấp) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với tài sản được chia nêu trên theo quy định của pháp luật.
Ghi nhận sự tự nguyện của anh H và chị G tiếp tục để cụ Đ sử dụng nhà tại tổ 1, khu xóm W, thị trấn X, huyện M, thành phố Hà Nội trên cho đến khi qua đời.
Ngoài ra, cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí, trách nhiệm do chậm thi hành án.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 10/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 01/02/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 438/2020/DS-PT ngày 24/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 22/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện M, thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Nhà đất thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, tại tổ 1, khu xóm W, thị trấn X, huyện M, thành phố Hà Nội có nguồn gốc là của vợ chồng cụ P, cụ Đ, được Ủy ban nhân dân huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2005 diện tích 62,68m2 sử dụng riêng và 21,3m2 sử dụng chung mang tên cụ T, cụ Đ.
Ngày 12/3/2012, tại Văn phòng công chứng D3, cụ T và cụ Đ lập di chúc chung có nội dung cho cháu trai là anh H (là cháu nội của hai cụ) có toàn quyền sử dụng, sang tên khối tài sản nhà đất nêu trên của hai cụ. Sau khi cụ T chết, ngày 26/10/2019, tại Văn phòng công chứng L, cụ Đ và anh H lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có nội dung anh H được hưởng toàn bộ phần di sản thừa kế của cụ T để lại; cụ Đ và anh H là đồng sở hữu, sử dụng diện tích nhà đất này và được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích 84m2, trong đó có 62,7m2 sử dụng riêng (đo thực tế là 66,6m2) và 21,3m2 ngõ đi chung (đo thực tế là 22,2m2), thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33 mang tên cụ Đ, anh H.
Theo Biên bản xem xét và thẩm định tại chỗ ngày 14/5/2020, thửa đất số 57-2 phần diện tích đất sử dụng riêng có kích thước chiều rộng phía giáp ngõ đi chung là 3,56m; chiều rộng phía sau là 3,67m; trên đất có ngôi nhà 2,5 tầng và nhà cấp 4. Theo Văn bản số 1101/UBND-TTPTQĐ ngày 03/6/2020, Ủy ban nhân dân huyện M xác định, thửa số 57-2 bị thu hồi diện tích là 11,2m2, diện tích sử dụng còn lại là 55,0m2.
Trong quá trình giải quyết vụ án, cụ Đ và anh H đều có nguyện vọng được nhận nhà đất và thanh toán giá trị cho nhau. Tuy nhiên, diện tích nhà đất có nguồn gốc là của vợ chồng cụ Đ, cụ T tạo lập và hai cụ sinh sống trên đất từ năm 1980; sau khi cụ T chết, cụ Đ vẫn quản lý, sử dụng, thờ cúng cụ T; năm 2016, anh H mới chuyển đến sinh sống cùng cụ Đ và không tạo lập được tài sản nào trên đất. Cụ Đ cho rằng, thực tế cụ và anh H không thể tiếp tục sống chung nhà nên có nguyện vọng được nhận nhà và thanh toán tiền cho anh H; các con của cụ Đ, cụ T là bà A, bà Y, bà S, bà D đề nghị giao nhà đất cho cụ Đ để cụ có chỗ ở, có nơi thờ cúng cụ T cho đến khi cụ qua đời. Xét thấy cụ Đ đã cao tuổi, sức yếu, có hạn chế trong việc thay đổi, tạo lập chỗ ở khác nên việc giao nhà đất cho cụ Đ sở hữu, sử dụng và cụ Đ thanh toán cho anh H số tiền 1.390.198.415 đồng như quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là phù hợp với nguồn gốc và quá trình hình thành khối tài sản chung. Anh H được hưởng giá trị 1/2 tài sản chung nói trên đủ để tạo lập chỗ ở mới.
Như vậy, có căn cứ chấp nhận một phần kháng nghị theo hướng sửa bản án dân sự phúc thẩm số 438/2020/DS-PT ngày 24/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 337, Điều 342, khoản 5 Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Sửa toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 438/2020/DS-PT ngày 24/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về vụ án “Tranh chấp chia tài sản chung” giữa nguyên đơn là cụ Đ với bị đơn là anh H, cụ thể như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Đ đối với anh H.
2. Xác định tài sản chung của cụ Đ và anh H là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất tại thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, địa chỉ tại tổ 1, khu xóm W, thị trấn X, huyện M, thành phố Hà Nội, diện tích 84m2, trong đó có 62,7m2 sử dụng riêng và 21,3m2 ngõ đi chung, tổng trị giá là 2.780.396.830 đồng. Cụ Đ và anh H mỗi người có quyền sở hữu, sử dụng 1/2 tài sản chung trị giá 1.390.198.415 đồng.
3. Chia tài sản chung của cụ Đ và anh H, cụ thể như sau:
Cụ Đ được sở hữu, sử dụng toàn bộ nhà đất tại thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, địa chỉ tại tổ 1, khu xóm W, thị trấn X, huyện M, thành phố Hà Nội (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 939809 ngày 14/11/2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cấp mang tên cụ Đ, anh H).
Cụ Đ có nghĩa vụ thanh toán cho anh H 1/2 tài sản chung trị giá là 1.390.198.415 đồng (Một tỷ, ba trăm chín mươi triệu, một trăm chín mươi tám nghìn, bốn trăm mười lăm đồng).
Cụ Đ có quyền, nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh (hoặc đổi, cấp) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với tài sản được chia nêu trên theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Án phí: Cụ Đ được miễn án phí dân sự sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 53.700.000 đồng (Năm mươi ba triệu, bảy trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 06808 ngày 05/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, còn phải nộp số tiền là 53.400.000 đồng (Năm mươi ba triệu, bốn trăm nghìn đồng).
Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định.
| Nơi nhận: - Chánh án TANDCC tại Hà Nội (để báo cáo); - Phó Chánh án TANDCC phụ trách; - VKSNDCC tại Hà Nội (để biết); - TAND thành phố Hà Nội; - TAND huyện M, thành phố Hà Nội; - Chi cục THADS huyện M, thành phố Hà Nội, - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu: VT, Phòng HCTP, Phòng GĐKTIII, HSGĐT; - Lưu Phòng Hồ sơ: Hồ sơ vụ án. . | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Xuân |