vanban.org

Quyết định 40/2019/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 89/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019 về việc “Hôn nhân và gia đình” giữa:

* Nguyên đơn: anh Đoàn Thanh S, sinh năm 1994; địa chỉ số 183/TK ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. * Bị đơn: chị Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1990; hộ khẩu thường trú số 183/TK ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 89/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019 về việc “Hôn nhân và gia đình” giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI -TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 40/2019/QĐST-HNGĐBa Tri, ngày 02 tháng 5 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

Căn cứ vào các điều 48, 217, 218, 219, khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã thụ lý số 89/2019/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019 về việc “Xin ly hôn”;

Xét thấy: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn anh Đoàn Thanh S ghi địa chỉ của bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc D là tại số nhà 183/TK ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Tuy nhiên, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tống đạt được Thông báo về việc thụ lý vụ án do chị D không còn cư trú tại địa chỉ trên. Tòa án đã tống đạt Thông báo yêu cầu anh S cung cấp địa chỉ mới của chị D nhưng anh S không cung cấp được. Qua xác minh tại địa phương vào ngày 18/4/2019, UBND – Công an xã T xác nhận địa chỉ 183/TK ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre mà anh S cung cấp trong đơn khởi kiện chính là địa chỉ nhà của gia đình anh S. Sau khi kết hôn với anh S, chị Nguyễn Thị Ngọc D mới chuyển về đăng ký thường trú tại địa chỉ trên, nhưng sau đó đã bỏ địa phương đi từ năm 2018 cho đến nay, hiện không rõ địa chỉ. Qua đó xét thấy, việc anh S không cung cấp được địa chỉ mới của chị D là thuộc trường hợp quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự (theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017).

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 89/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019 về việc “Hôn nhân và gia đình” giữa:

* Nguyên đơn: anh Đoàn Thanh S, sinh năm 1994; địa chỉ số 183/TK ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

* Bị đơn: chị Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1990; hộ khẩu thường trú số 183/TK ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

- Người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.

- Trả lại cho anh Đoàn Thanh S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000040 ngày 05 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận quyết định các đương sự có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ