- Tranh chấp gì? "Phạm Ngọc T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Phạm Ngọc T sinh năm 1974.
- Căn cứ chính? Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 2 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 40/2019/QĐ-TA | Quận 7, ngày 19 tháng 02 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp, gồm có:
Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Ông Bùi Viết Bình;
Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Trần Thị Xuân Duyên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2019, tại phòng họp Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 31/2019/QĐ-TA ngày 15 tháng 02 năm 2019, đối với:
Đối với Phạm Ngọc T
Giới tính: Nữ
Tên gọi khác: Không
Sinh năm 1974
Nghề nghiệp: Không.
Nơi ĐK HKTT: 129F/186/91 Đường Đ, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định.
Con ông: Phạm Thành Long và con bà Phạm Thị Vị
Bà Phạm Ngọc T có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Cao Minh Hoàng - Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt);
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Sơn – Kiểm sát viên (Có mặt tại phiên họp).
3. Người đại diện hợp pháp của người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Không có.
4. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị: Không có.
5. Những người khác: Không có.
NHẬN THẤY:
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7 có công văn số 238/LĐ-TBXH ngày 13/02/2019 đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Phạm Ngọc T do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:
Ngày 13/12/2018, Công an phường H, Quận S xét nghiệm chất ma túy, kết quả dương tính, bà Phạm Ngọc T khai nhận có sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp (ma túy đá) nên Công an phường Tân Hưng lập hồ sơ đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, Quận S ký Quyết định số 1806/QĐ-UBND ngày 14/12/2018 đưa bà Phạm Ngọc T vào Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 để quản lý, cắt cơn giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Công an phường Tân Hưng xác minh tại địa chỉ số 129F/186/91 Đường Đ, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả xác minh ngày 13/12/2018, Công an Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, xác nhận đương sự Phạm Ngọc T có hộ khẩu thường trú nhưng không thực tế cư trú tại địa phương, hiện không xác định được nơi cư trú của đương sự Phạm Ngọc T.
Tại phiên họp hôm nay:
- Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7 có ý kiến: do bà Phạm Ngọc T nghiện ma túy, không nơi cư trú ổn định nên các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ đúng trình tự, quy định của pháp luật.
Nay, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Nghĩa đối với bà Phạm Ngọc T thời hạn 18 tháng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu ý kiến về việc tuân theo Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án:
Tòa án nhân dân Quận 7, Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng quy định về thời hạn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; tiến hành thụ lý và thông báo về việc thụ lý cho Viện Kiểm sát; thực hiện phân công Thẩm phán xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại các Điều 7, 8, 9, 10, 11 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Phạm Ngọc T đúng theo trình tự, thủ tục và thẩm quyền lập hồ sơ quy định tại Điều 12 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Triệu tập thành phần tham gia phiên họp và trình tự tiến hành phiên họp thực hiện đúng quy định tại Điều 17 và Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 7 đề nghị xem xét theo hướng đồng ý đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7 và đề nghị thời hạn chữa bệnh là 18 tháng.
- Bà Phạm Ngọc T xác nhận bản thân nghiện ma túy, bị Công an phường H, Quận S lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Nay, bà Phạm Ngọc T không có ý kiến gì đối với việc Tòa án áp dụng biện pháp bắt buộc cai nghiện.
XÉT THẤY:
Căn cứ Biên bản vi phạm hành chính, biên bản ghi lời khai do Công an phường H, Quận S xác lập thể hiện bà Phạm Ngọc T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, có chữ ký xác nhận của bà Phạm Ngọc T; căn cứ các bản tường trình, bản tự khai do bà Phạm Ngọc T tự viết, tự ký tên.
Công an phường Tân Hưng xác minh tại địa chỉ số 129F/186/91 Đường Đ, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả xác minh ngày 13/12/2018, Công an Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, xác nhận đương sự Phạm Ngọc T có hộ khẩu thường trú nhưng không thực tế cư trú tại địa phương, hiện không xác định được nơi cư trú của đương sự Phạm Ngọc T.
Căn cứ Thông báo số 3455/TB-TTN2-TN ngày 19/12/2018 và Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy do Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 thể hiện bà Phạm Ngọc T nghiện ma túy, chất dạng ma túy tổng hợp.
Căn cứ khoản 16 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính “Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này”.
Vậy, Thông báo số 3455/TB-TTN2-TN ngày 19/12/2018 và Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy do Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2 lập thể hiện bà Phạm Ngọc T nghiện ma túy là có cơ sở.
Căn cứ các Biên bản vi phạm hành chính, Biên bản ghi lời khai, bản tường trình, bản tự khai, lời trình bày của bà Phạm Ngọc T tại phiên họp hôm nay, đã xác định bà Phạm Ngọc T nghiện ma túy, không nơi cư trú ổn định, bị Công an phường H, Quận S lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Vậy, căn cứ khoản 1 Điều 2 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc áp dụng đối với trường hợp của bà Phạm Ngọc T không nơi cư trú ổn định.
Từ những nội dung nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Phạm Ngọc T đã được Công an phường Tân Hưng, Ủy ban nhân dân phường H, Quận S; Phòng Tư pháp Quận 7; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7 lập đúng và đầy đủ theo trình tự do pháp luật quy định.
Do đó, đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7 là có cơ sở.
Xét bà Phạm Ngọc T có chưa có tiền án và chưa có tiền sự, là người đã trên 18 tuổi, biết rõ chất ma túy là độc hại và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bà Phạm Ngọc T là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh trật tự tại địa bàn dân cư và cũng là nguyên nhân tiềm ẩn, phát sinh các loại tội phạm gây nguy hại đến cộng đồng xã hội nên việc áp dụng biện pháp bắt buộc cai nghiện có thời hạn đối với bà Phạm Ngọc T là cần thiết.
Từ những nhận định nêu trên, xét bà Phạm Ngọc T có chưa có tiền án và chưa có tiền sự, là người đã trên 18 tuổi, nghiện ma túy, hiện không nơi cư trú ổn định nên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 13 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 về thời hiệu lập hồ sơ, đối tượng áp dụng, thẩm quyền lập hồ sơ, trình tự thủ tục lập hồ sơ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Phạm Ngọc T sinh năm 1974.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:
- Bà Phạm Ngọc T được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.
- Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Quận 7 được quyền kiến nghị trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.
- Viện Kiểm sát nhân dân Quận 7 được quyền kháng nghị trong thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hiệu khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Nghĩa có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Ông Phạm Ngọc T; - Viện Kiểm sát nhân dân Quận 7; - Trưởng Công an Quận 7; - Trưởng Phòng LĐ-TBXH Quận 7; - UBND phường H, Quận S; - Công an phường H, Quận S; - Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2; - Cơ sở cai nghiện ma túy Phú Nghĩa; - Lưu hồ sơ (TK Duyên). | THẨM PHÁN (Đã ký) Bùi Viết Bình |