vanban.org

Quyết định 39 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị B và Nguyễn Văn S.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về con chung: Chị Lê Thị B được tiếp tục nuôi dưỡng con Nguyễn Thành Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị B và Nguyễn Văn S.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 39/2022/QĐST-HNGĐ Tháp Mười, ngày 03 tháng 3 năm 2022

Số: 39/2022/QĐST-HNGĐ Tháp Mười, ngày 3 tháng 3 năm 2022

HUYỆN THÁP MƯỜI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 27/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2022, giữa: Nguyên đơn: Chị Lê Thị B, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp 3, xã H, huyện T, Đồng Tháp. Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 23 tháng 02 năm 2022.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 23 tháng 02 năm 2022 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị B và Nguyễn Văn S. 2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về con chung: Chị Lê Thị B được tiếp tục nuôi dưỡng con Nguyễn Thành K, sinh ngày 22/8/2013.

Anh Nguyễn Văn S được tiếp tục nuôi dưỡng con Nguyễn Như Y, sinh ngày 08/5/2009. Chị B, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con do chị B, anh S không có yeu cầu với nhau. Về quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con: Sau khi ly hôn, người không trực tiếp con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó theo quy định tại các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Về tài sản chung: Chị Lê Thị B và anh Nguyễn Văn S trình bày không có. Về nợ chung: Chị Lê Thị B và anh Nguyễn Văn S trình bày không có. Về án phí: Chị Lê Thị B phải chịu 75.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và tự nguyện chịu thay cho anh Nguyễn Văn S 75.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0007536 ngày 10/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Chị Lê Thị B được hoàn trả lại số tiền chênh lệch là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng). 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ