- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Phúc A.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H TỈNH N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 39/2020/QĐ-TA | Thị xã H, ngày 28 tháng 8 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH N
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà PHẠM NGỌC GIÀU.
2. Thư ký phiên họp: Bà PHẠM THỊ NGỌC LAN.
Ngày 28 tháng 8 năm 2020, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh N, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo hồ sơ thụ lý số: 52/2020/TL-VHC ngày 14 tháng 8 năm 2020 và Quyết định mở phiên họp số: 48/2020/QĐ-TA ngày 20 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã H đối với:
Họ và tên: LÊ PHÚC A, sinh ngày 01/01/1993; giới tính: Nam; CCCD số: 334733661 cấp ngày 15/11/2019, nơi cấp: CA V; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 8/12; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp P, xã N, huyện L, tỉnh V, hiện nay sống lang thang không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: công nhân; con ông Lê Văn Bình, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Đuôn, sinh năm 1965.
Tiền án: Không có.
Tiền sự: Không có.
Nhân thân: Năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện L xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Hiện đang lưu trú và chữa bệnh tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh N, anh Lê Phúc A có mặt tại phiên họp.
* Có sự tham gia của:
1. Đại diện hợp pháp của cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã H, tỉnh N (Văn bản ủy quyền số: 46/GUQ-P.LĐTBXH ngày 25/8/2020):
Bà Châu Phương Hoa - Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã H, tỉnh N.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh N: Ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 30/7/2020 anh Lê Phúc A bị Công an phường Long Thành Trung, thị xã H, tỉnh N mời đến trụ sở làm việc, thử nước tiểu cho kết quả dương tính với ma túy nên lập biên bản vi phạm hành chính. Anh A thừa nhận có sử dụng ma túy vào ngày 28/7/2020 tại phòng trọ thuộc khu phố Long Trung, phường Long Thành Trung, thi xã H, tỉnh N. Cùng ngày 30/7/2020 Công an phường Long Thành Trung có văn bản gửi Trạm Y tế phường Hiệp Tân yêu cầu xác định người nghiện chất ma túy đối với anh A. Tại phiếu trả lời kết quả của Trạm Y tế phường Hiệp Tân ngày 30/7/2020 kết luận anh Lê Phúc A là người nghiện ma túy (Methamphetamine).
Tại phiếu xác minh tình trạng cư trú ngày 30/7/2020 của Công an phường Long Thành Trung, thị xã H, tỉnh N; tại biên bản làm việc anh A ngày 30/7/2020 và biên bản xác minh thể hiện: anh Lê Phúc A có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp P, xã N, huyện L, tỉnh V nhưng hiện nay không có mặt ở địa phương, sống lang thang không có nơi cư trú ổn định. Do anh A không có nơi cư trú ổn định nên Chủ tịch UBND phường Long Thành Trung, thị xã H, tỉnh N đã ban hành Quyết định số: 02/QĐ-UBND ngày 30/7/2020 đưa anh Lê Phúc A vào cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh N để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã H: Căn cứ vào hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Phúc A do Chủ tịch UBND phường Long Thành Trung lập đã thể hiện: anh Lê Phúc A là người nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định. Đề nghị Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh N xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh A, thời gian từ 12 tháng đến 15 tháng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H: Tòa án nhân dân thị xã H đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Phúc A, thời gian từ 12 tháng đến 15 tháng.
Tại phiên họp, anh Lê Phúc A thừa nhận bản thân bị nghiện ma túy và đồng ý đi cai nghiện.
XÉT THẤY:
Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của cơ quan đề nghị là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã H; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, có đủ cơ sở xác định:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Long Thành T đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Phúc A, xét thấy hồ sơ đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các Điều 6, 95, 96, 103, 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, 4, 8, 9, 11, 12, 13 Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; điểm 2 khoản 1 và điểm 1 khoản 2 Điều 1 Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.
Nội dung hồ sơ thể hiện anh Lê Phúc A là người nghiện ma túy nên biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội. Để tạo điều kiện cho anh A chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề, nên xét thấy cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã H, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Phúc A.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, anh Lê Phúc A thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy và đồng ý đi cai nghiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Anh Lê Phúc A có nhân thân xấu, đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nên cũng cần xem xét khi áp dụng thời gian đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 6, 9, 10, 95, 96, 103, 104, 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, 4, 8, 9, 11, 12, 13 Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; điểm 2 khoản 1 và điểm 1 khoản 2 Điều 1 Nghị định số: 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Phúc A.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày 30/7/2020. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh N.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thị xã H; Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thị xã H, tỉnh N.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã H; - Trưởng Công an thị xã H; - Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thị xã H; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh N; - UBND phường Long Thành Trung; - Công an phường Long Thành Trung; - Anh Lê Phú A; - Lưu hồ sơ, VP-(G). | THẨM PHÁN Phạm Ngọc Giàu |