- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Lò Quốc T.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH Đ Số: 39/2026/QĐ-TA | Đ, ngày 10 tháng 3 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - Đ, TỈNH Đ
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Đào Thị Thúy Thành
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Ngày 10 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đ, tỉnh Đ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số: 39/QĐ-TA ngày 03 tháng 3 năm 2026, đối với:
Họ và tên: LÒ QUỐC T; Tên gọi khác: Không có tên gọi khác;
Sinh ngày: 10/02/1990 tại tỉnh Đ;
Căn cước số: 011090000455 ngày cấp 24/9/2025, nơi cấp: Bộ Công an;
Dân tộc: Thái; Tôn Giáo: không; Trình độ văn hoá: 09/12 phổ thông;
Nơi cư trú: Bản P, xã T, tỉnh Đ.
Nghề nghiệp: Làm ruộng;
Tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 06/9/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Đ (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 2- Đ) xét xử và xử phạt 01 năm, 05 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tiền sự: Không.
Con ông: Lò Xuân Đ (đã chết) và con bà: Lò Thị P.
(Người bị đề nghị có mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Công an xã T, tỉnh Đ: Ông Lù Văn Thành – Phó trưởng Công an xã.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đ: Bà Hoàng Thuỳ Dương
- Kiểm sát viên.
3. Người bị đề nghị: Lò Quốc T.
NHẬN THẤY:
Lò Quốc T là đối Tượng bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết dịnh số 53/QĐ-UBND ngày 12/01/2026 của UBND xã T. Ngày 21/01/2026 công an xã T tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Lò Quốc T, kết quả: Dương tính với chất ma túy trong cơ thể, cùng ngày, Công an xã T đề nghị Trạm y tế xã T xác định tình trạng nghiện ma túy. Từ ngày 23/01/2026 đến ngày 27/01/2026 Lò Quốc T được trạm y tế xã T, tỉnh Đ theo dõi để xác định tình trạng nghiện. Ngày 28/01/2026 trạm y tế xã T kết luận: Lò Quốc T nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng: Heroine.
Tại Bản tường trình ngày 05/02/2026 Lò Quốc T thừa nhận mình hiện đang sử dụng ma túy từ năm 2017. Ngày 05/02/2026, T bị lập biên bản vi phạm về việc cai nghiện ma túy tự nguyện theo biên bản số 04/BB-VPHC ngày 05/02/2026.
Ngày 06/02/2026, Công an xã T, tỉnh Đ ban hành thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Quốc T.
Ngày 13/02/2026, Công an xã T, tỉnh Đ có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đ xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Quốc T.
* Ý kiến của những người tham gia phiên họp:
- Người bị đề nghị Lò Quốc T: Bản thân tôi (T) là người nghiện ma túy từ năm 2017 cho đến nay. Ngày 28/01/2026, tôi được trạm y tế xã T trả lời kết quả và giao phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy kết luận: Tôi (T) có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng: Heroine, là hoàn toàn đúng và khách quan. Bản thân tôi tuổi đời còn trẻ, mong muốn hội đồng xem xét, cho tôi được đi cai nghiện trong thời gian ngắn, để tôi sớm được trở về với gia đình.
- Đại diện Công an xã T có ý kiến: Lò Quốc T là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, là người nghiện ma túy; đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” từ 16 tháng đến 18 tháng đối với T.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đ có ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Thủ tục pháp lý hồ sơ của Lò Quốc T đầy đủ, đảm bảo về thời hiệu, thẩm quyền và trình tự. Quá trình thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp đã thực hiện đúng theo quy định của pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Lò Quốc T là người đủ 18 tuổi, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hành chính, là người nghiện ma túy, có nơi cư trú ổn định, đã không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định tại Điều 32 của luật phòng chống ma túy. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Lò Quốc T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là từ 18 tháng đến 22 tháng.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và ý kiến của những người tham gia phiên họp thấy rằng:
Tài liệu trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Quốc T đảm bảo về thời hiệu và trình tự theo quy định tại Điều 6, Điều 96, Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi bổ sung năm 2025 và khoản 3 Điều 32 Luật phòng chống ma túy.
Lò Quốc T là người nghiện ma túy, nhưng không đăng ký uống Methadone, không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện, nên cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để Lò Quốc T có điều kiện cai nghiện, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại phiên họp Lò Quốc T thật thà khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Tự nguyện khai báo. Tình tiết tăng nặng: Không; Nhân thân: Lò Quốc T có nhân thân xấu, đã 02 lần bị Tòa án xét xử và xử phạt hình phạt tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, trong đó có 01 lần chưa được xóa án tích.
Đối với ý kiến của đại diện Công an xã T, tỉnh Đ, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đ, tỉnh Đ về việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Quốc T là có căn cứ, nên cần chấp nhận. Lò Quốc T, thật thà khai báo, nhưng là người có nhân thân xấu, do vậy, với mức đề nghị của cơ quan đề nghị, là chưa phù hợp, nên không chấp nhận. Mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105, khoản 2 Điều 9, khoản 1, khoản 2 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 21, 23, 30, 31, 32, 33 của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 về trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Lò Quốc T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 22 (Hai mươi hai) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Lò Quốc T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định (10/3/2026).
Trưởng Công an xã T, tỉnh Đ có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đ, tỉnh Đ có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định này, Công an xã T, tỉnh Đ có trách nhiệm đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Trưởng Công an xã T, tỉnh Đ; - VKSND khu vực 1 – Đ; - TAND tỉnh Đ; - UBND xã T, tỉnh Đ; - Lưu: Kế toán, Văn phòng, hồ sơ. | THẨM PHÁN Đào Thị Thúy Thành |