vanban.org

Quyết định 39/2024/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 09/12/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Trịnh Văn G;

Tuyên bố: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; Nơi cư trú cuối cùng: số I tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (số nhà C, khu phố B) bị mất tích. Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Ông Trịnh Văn G phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào số ti… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Trịnh Văn G"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Trịnh Văn G;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 39/2024/QĐST-VDSBiên Hòa, ngày 09 tháng 12 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Bùi Thị Thanh Thủy.

Thư ký phiên họp: Bà La Nguyễn Minh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 571/2024/TLST-VDS ngày 05 tháng 6 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 1925/2024/QĐST-VDS ngày 13 tháng 11 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trịnh Văn G, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Số G, đường số A, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh.

(Ông G có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản tự khai ông Trịnh Văn G trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị H tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai năm 2008. Ông và bà H có 03 người con chung là cháu Trịnh Tuấn A, sinh ngày 23/9/2008, Trịnh Thị Thu H1, sinh ngày 02/9/2010 và Trịnh Thu H2, sinh ngày 13/5/2014. Quá trình chung sống hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, tháng 11/2021, bà H đã bỏ nhà đi đến nay không rõ tung tích. Gia đình đã liên hệ, tìm kiếm nhưng không được.

Ông G đã thực hiện việc tìm kiếm trên B nhưng cũng không có bất kỳ tin tức gì của bà H. Qua xác minh nhân khẩu, Công an phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cho biết: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1988, hộ khẩu thường trú tại số I tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (số nhà C, khu phố B) nhưng thực tế không sinh sống tại địa phương từ năm 2021 đến nay. Kể từ ngày bà H đi khỏi nhà đã 03 năm, gia đình đã tìm kiếm khắp nơi nhưng không có tin tức gì của bà H.

Nay ông G yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1988; nơi cư trú cuối cùng số I tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (số nhà C, khu phố B) mất tích.

* Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa về việc giải quyết việc dân sự như sau: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Trịnh Văn G về việc tuyên bố bà Nguyễn Thị H mất tích.

Về lệ phí: Ông Trịnh Văn G phải nộp lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Ông Trịnh Văn G yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị H mất tích. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1988, nơi cư trú cuối cùng trước khi mất tích là số 97 tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (số nhà C, khu phố B) nên căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Về tố tụng:

Ông G có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tiến hành giải quyết việc dân sự vắng mặt ông G.

Xét nội dung yêu cầu:

Ông Trịnh Văn G (chồng bà H) yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị H mất tích do bà H bỏ nhà đi từ năm 2021 cho tới hiện nay. Mặc dù, gia đình đã nhiều lần đi tìm kiếm khắp nơi nhưng không thể biết tin tức gì của bà H.

Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng cư trú của bà Nguyễn Thị H tại Công an phường L ngày 12/6/2024. Tuy nhiên, Công an phường L đã xác định bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1988, có hộ khẩu thường trú tại đại chỉ số I tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (số nhà C, khu phố B) nhưng thực tế không sinh sống tại địa phương từ năm 2021 đến nay.

Tòa án đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 980/2024/QĐ-TA ngày 01/7/2024, ông Trịnh Văn G đã tiến hành đầy đủ các thủ tục đăng Quyết định trên báo “Lao động” trong ba số liên tiếp, phát sóng trên Đ ba lần trong ba ngày liên tiếp theo quy định tại Điều 385, 388 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Như vậy, tính đến thời điểm xét đơn yêu cầu của ông G, bà H đã biệt tích 02 (hai) năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà Nguyễn Thị H còn sống hay đã chết.

Từ những căn cứ trên, xét thấy ông Trịnh Văn G yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với bà Nguyễn Thị H là có căn cứ nên chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Ông Trịnh Văn G phải nộp lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về việc giải quyết việc dân sự là phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 371, Điều 372, Điều 389 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Trịnh Văn G;

Tuyên bố: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; Nơi cư trú cuối cùng: số I tổ A, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (số nhà C, khu phố B) bị mất tích.

2. Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Ông Trịnh Văn G phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng lệ phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 03976 ngày 28/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Ông G đã nộp xong.

3. Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ