- Tranh chấp gì? "Quyết định số 39/2023/QĐ-TA ngày 15/11/2023"
- Tòa quyết gì? tCăn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy;
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 39/2023/QĐ-TA | Krông Búk, ngày 15 tháng 11 năm 2023. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán: Ông Lê Anh Thái.
Thư ký phiên họp: Ông Vũ Đức Anh.
Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Búk tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 40/2023/QĐ-TA ngày 06/11/2023, đối với người bị đề nghị:
Họ và tên: Chu Văn T, sinh ngày 13/3/1997; giới tỉnh: Nam; nơi sinh: tỉnh Đăk Lắk; CCCD số: 066097013516; Nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 10/12; nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở hiện nay: Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Chu Văn M, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị H (đã chết); Tiền án, tiền sự: Không.
Người bị đề nghị: Chu Văn T – vắng mặt.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Duy Trung – Cán bộ Phòng Lao đông – Thương binh và Xã hội huyện Krông Búk– Đại diện theo ủy quyền của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Krông Búk.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk: Ông Nguyễn Văn Toản - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 23/10/2023, Chu Văn T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã C, huyện K lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đưa đi xét nghiệm chất ma túy. Căn cứ Phiếu kết quả Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 23/10/2023 của Trung tâm y tế huyện K về việc xác định người nghiện ma túy, đã kết luận: Test Morphine (Heroin) có kết quả: Dương tính. Xác định Chu Văn T có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Morphine (Heroin).
Ý kiến của đại diện Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc – Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Krông Búk:
Người bị đề nghị đã bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quyết định số 207/QĐ-UBND ngày 18/10/2023, thời gian áp dụng là 01 năm kể từ ngày 16/10/2023. Trong thời gian chấp hành quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy người bị đề nghị tiếp tục sử dụng chất ma túy vào ngày 23/10/2023 nên thuộc trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, đề nghị Toà án nhân dân huyện Krông Búk áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng đối với người bị đề nghị Chu Văn T.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Krông Búk đề nghị Toà án nhân dân huyện Krông Búk áp dụng biện pháp biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị là ph hợp, hồ sơ đầy đủ, đúng quy định của pháp luật nên đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị. Về thời hạn cai nghiện bắt buộc đề nghị áp dụng thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
Tại bản tường trình, biên bản làm việc ngày 23/10/2023, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, người bị đề nghị Chu Văn T trình bày:
Anh Chu Văn T đã sử dụng ma túy từ đầu năm 2022, loại ma túy sử dụng là Hêrôin, hình thức sử dụng là chích vào cơ thể, tần suất sử dụng 01 lần/ngày. Anh Chu Văn T đang bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quyết định của Ủy ban nhân dân xã C. Bản thân anh T biết hành vi sử dụng chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng anh T không tự mình cai nghiện được. Điều kiện gia đình anh T hiện nay rất khó khăn không có điều kiện kinh tế để đăng ký cai nghiện tự nguyện nên anh T đề nghị được đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc theo quy định của pháp luật.
Ý kiến trình bày của ông Chu Văn M (bố đẻ của Chu Văn T).
Gia đình ông M biết anh T sử dụng và nghiện ma túy từ năm 2021, gia đình đã khuyên bảo và tự cai nghiện cho anh T nhiều lần nhưng không có kết quả. Bản thân anh T cũng biết mình nghiện ma túy và tự nguyện yêu cầu được đi cai nghiện bắt buộc. Gia đình ông M hoàn toàn đồng ý với việc lập hồ sơ đưa anh T vào cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy bắt buộc của Cơ quan có thẩm quyền. Vì điều kiện gia đình hiện nay rất khó khăn, mẹ anh T đã chết vào tháng 5/2022, hiện nay gia đình chỉ có ông M và anh T, ông M thường xuyên đau ốm phải nằm viện điều trị. Vì vậy ông M đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T với thời gian 15 tháng.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, trên cơ sở xem xét toàn diện, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, ý kiến đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Krông Búk, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk.
XÉT THẤY:
1. Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
Về thời hiệu: Căn cứ quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật phòng, chống ma túy; Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện; khoản 1 Điều 9 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, xác định hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Chu Văn T đảm bảo đúng thời hiệu.
Tại phiên họp vắng mặt người bị đề nghị Chu Văn T mặc d đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Tòa án nhân dân huyện Krông Búk tiến hành mở phiên họp vắng mặt Chu Văn T.
Về hồ sơ đề nghị: Đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định tại khoản 5 Điều 1 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2020; khoản 2 Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.
2. Về nội dung: Người bị đề nghị anh Chu Văn T thừa nhận sử dụng ma túy từ đầu năm 2022, đang bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn 01 năm kể từ ngày 18/10/2023, trong thời gian chấp hành biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 23/10/2023, anh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an xã C, huyện K lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đưa đi xét nghiệm, xác định anh T có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Morphine (Heroin). Trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị Chu Văn T có nguyện vọng được đi cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật.
Căn cứ khoản 2 Điều 95; khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của anh Chu Văn T đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Xét hồ sơ đề nghị Toà án áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Krông Búk đã đầy đủ, đúng quy định tại Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính; người bị đề nghị Chu Văn T, gia đình người bị đề nghị có nguyện vọng được đi cai nghiện tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk nên cần chấp nhận và áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn T với thời hạn 16 tháng để đảm bảo việc chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của Cơ sở cai nghiện bắt buộc là ph hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
tCăn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy;
Căn cứ khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 105; Điều 106 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 40; 41; 54 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.
Căn cứ Điều 3; Điều 23; 30; 31; 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Căn cứ Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Chu Văn T.
Nơi chấp hành: Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk tại xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 tháng (mười sáu tháng), kể từ ngày 24/10/2023, là ngày người bị đề nghị Chu Văn T được giao cho Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk (theo biên bản về việc giao, nhận hồ sơ, người bị quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc giữa Công an xã C, huyện K và Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk).
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị:
Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết; Thời hạn kiến nghị của cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát c ng cấp là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan Thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Krông Búk có trách phiệm phối hợp với Công an huyện Krông Búk đưa người phải chấp hành Quyết định vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Phòng LĐTB & XH huyện Krông Búk; - VKSND huyện Krông Búk; - CA huyện Krông Búk; - Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk; - UBND; Công an xã C; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đã ký Lê Anh Thái |