vanban.org

Quyết định 380/2024/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị Dạ H với ông Phạm Văn T.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: bà Trần Thị Dạ H và ông Phạm Văn T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Trần Thị Dạ H yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn T"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị Dạ H với ông Phạm Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BT
Số: 380/2024/QĐST-HNGĐ
CL, ngày 21 tháng 11 năm 2024.

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 299/2024/TLST/HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Dạ H - Sinh năm 1977; Địa chỉ: ấp PT, xã TT, huyện CL, tỉnh BT.

Bị đơn: Ông Phạm Văn T - Sinh năm 1981; Địa chỉ: ấp PT, xã TT, huyện CL, tỉnh BT.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 13 tháng 11 năm 2024.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 13 tháng 11 năm 2024 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị Dạ H với ông Phạm Văn T.

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: bà Trần Thị Dạ H và ông Phạm Văn T không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.

Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: bà Trần Thị Dạ H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 01 người con chung của bà và ông Phạm Văn T tên Phạm Thị Tường V, sinh ngày 01/04/2009 (phù hợp với nguyện vọng của cháu V). Ghi nhận bà Trần Thị Dạ H không yêu cầu ông Phạm Văn T cấp dưỡng nuôi con cho cháu V.

Riêng người con chung tên Phạm Chí V1, sinh ngày 15/12/2005 đã trưởng thành, có đủ khả năng tự lao động để nuôi sống bản thân nên bà H và ông T đều không yêu cầu Tòa giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom con mà không ai được cản trở họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con chung, bà H và ông T có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức và phương thức cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp có căn cứ người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, trên cơ sở lợi ích của con thì người thân thích, Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm là: 150.000đồng.

Bà Trần Thị Dạ H tự nguyện nộp 150.000đ (Một trăm năm mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền bà H đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai số 0003372 ngày 03/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL được khấu trừ sang tiền án phí. Hoàn trả lại cho bà H số tiền chênh lệch còn lại là 150.000đ (Một trăm năm mươi ngàn đồng).

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ