vanban.org

Quyết định 38/2025/QĐ-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/05/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 97/TLPT-DS ngày 29 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản, tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế và tặng cho tài sản vô hiệu, tuyên hợp đồng chuyển nhượng; hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệ…

Nguyên đơn: 1. Bà Nguyễn Thị B; địa chỉ: Số C G, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "NĐ: NGUYÊN THỊ B, NGUYỄN THỊ N- BĐ: DƯƠNG VĂN M +..."
  • Tòa quyết gì? I. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 97/TLPT-DS ngày 29 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản, tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế và tặng cho tài sản vô hiệu, tuyên hợp đồng chuyển nhượng; hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệ…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 38/2025/QĐ-PTHà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Thanh;

Các Thẩm phán:

Ông Ngô Quang Dũng;

Bà Nguyễn Ngọc Hoa.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Chuyền, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hưng, Kiểm sát viên cao cấp.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai bị kháng cáo như sau:

- Ngày 13/12/2023, nguyên đơn trong vụ án là bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị N; người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Dương Toàn T; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Dương Quốc C, bà Đàm Thị T1 đều có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên.

- Ngày 26/12/2023, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà Nguyễn Thị Thu H, bà Nguyễn Thị Thu H1 đều có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 22/5/2025, ông Dương Quốc C có quan điểm: Đề nghị được rút toàn bộ nội dung kháng cáo; bà Đàm Thị T1 (Vợ ông) cũng đã nhận được giấy triệu tập của Tòa án nhưng do có công việc cá nhân nên không đến phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và cũng không ủy quyền cho ông tham gia tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có kháng cáo (Bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị N) là ông Dương Toàn T và những người kháng cáo khác là bà Nguyễn Thị Thu H, bà Nguyễn Thị Thu H1 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Hồng S đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ việc xét xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định những người kháng cáo là bà Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị N (có người đại diện theo ủy quyền là ông Dương Toàn T tham gia tố tụng), bà Đàm Thị T1, bà Nguyễn Thị Thu H, bà Nguyễn Thị Thu H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, đồng thời những người kháng cáo không có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ tại phiên tòa phúc thẩm nên được coi là trường hợp người kháng cáo đã từ bỏ việc kháng cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 289; Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

I. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 97/TLPT-DS ngày 29 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản, tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế và tặng cho tài sản vô hiệu, tuyên hợp đồng chuyển nhượng; hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu; đòi lại tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1. Bà Nguyễn Thị B; địa chỉ: Số C G, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội.

1.2. Bà Nguyễn Thị N; địa chỉ: Đ, A, xã L, huyện V, tỉnh Nam Định.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Dương Toàn T; địa chỉ: Số B đường Đ, phường H, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

2. Bị đơn:

2.1. Ông Dương Văn M (đã chết); Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông M:

+ Ông Dương Tuấn T2; địa chỉ: Số nhà B, phố T, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

+ Ông Dương Quốc C, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ D, phường P, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

2.2. Ông Dương Tuấn T2; địa chỉ: Số nhà B, phố T, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

2.3. Bà Phùng Thùy D; địa chỉ: Số nhà B, phố T, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T2, bà D: Bà Nguyễn Thị D1; địa chỉ: Số nhà C đường H, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

2.4. Ông Đào Hoàng A; địa chỉ: Số nhà B, phố T, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

2.5. Ông Nguyễn Hồng S; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Mỹ H2; cùng địa chỉ: Số nhà A phố T, phường B, quận T, thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Hồng S: Luật sư Phùng Viết V - Công ty L1, thuộc Đoàn luật sư thành phố H.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ủy ban nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai.

3.2. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L.

3.3. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh L).

3.4. Văn phòng C1; địa chỉ: Số H đường T, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

3.5. Văn phòng C2; địa chỉ: Số E đường L, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

3.6. Văn phòng C3; địa chỉ: Số A đại lộ T, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

3.7. Ngân hàng N1; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quang T3; chức vụ: Phó Giám đốc phụ trách Ngân hàng N1 - chi nhánh K-; địa chỉ: Số F đường H, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

3.8. Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Văn L, bà Lưu Thu T4, bà Phạm Mỹ T5; địa chỉ: Số B đường N, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

3.9. Công ty TNHH T6; địa chỉ: Số B, phố T, tổ H, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

3.10. Ông Dương Quốc C, sinh năm 1964 và bà Đàm Thị T1; địa chỉ: Tổ D, phường P, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

3.11. Bà Nguyễn Thị Thu H.

3.12. Bà Nguyễn Thị Thu H1.

Cùng địa chỉ: Số nhà B L, đường L, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định.

3.13. Ông Nguyễn Trung D2 và bà Hoàng Thị H3; cùng địa chỉ: Số B phố L, tổ F, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

II. Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

III. Về án phí dân sự phúc thẩm:

1. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1937; bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1946 đều là người cao tuổi nên được miễn án phí.

2. Ông Dương Quốc C phải chịu 150.000 đồng án phí phúc thẩm; được đối trừ với số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm tại Biên lai số 0000016 ngày 20/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai; hoàn trả lại cho ông C 150.000 đồng.

3. Sung vào công quỹ Nhà nước số tiền mà bà Đàm Thị T1, bà Nguyễn Thị Thu H, bà Nguyễn Thị Thu H1 mỗi người đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm tại Biên lai số 0000015 ngày 20/12/2023; các Biên lai số 0000026 ngày 29/12/2023; số 0000025 ngày 29/12/2023 đều của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai.

Cỡ chữ