- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Sùng Mí S đối với chị Vừ Thị C.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÈO VẠC TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 38/2020/QĐST-VDS | Mèo Vạc, ngày 25 tháng 8 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÈO VẠC, TỈNH HÀ GIANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nhung.
Thư ký phiên họp: Ông Đặng Văn Tình - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp: Ông Vừ Mí Sính - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 04/2020/TLST-VDS, ngày 16 tháng 3 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 37/2020/QĐST-VDS, ngày 18 tháng 8 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Sùng Mí S, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang.
Trợ giúp pháp lý và là người được anh Sùng Mí S ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân Giang, sinh năm 1981 là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Giang.
Người bị yêu cầu: Chị Vừ Thị C; sinh năm 1983; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn A, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 10/3/2020 và tại phiên họp, người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu trình bày: Anh Sùng Mí V, sinh năm 1983 (là em trai của Sùng Mí S) có chung sống với chị Vừ Thị C như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống anh Sùng Mí V và chị Vừ Thị C sinh được 02 con chung là cháu Sùng Thị X, sinh ngày 22/01/2008, cháu Sùng Thị M, sinh ngày 07/3/2009. Ngày 23/02/2016 anh Sùng Mí V chết, năm 2015 em dâu của anh là Vừ Thị C đã bỏ nhà đi không bàn bạc gì với gia đình và cũng từ đó cho đến nay chị Vừ Thị C cắt đứt liên lạc, không cung cấp địa chỉ mới cho gia đình anh, cũng không khai báo tạm vắng với chính quyền địa phương, mặc dù anh liên hệ với người thân thích trong gia đình và bạn bè của chị C nhưng không có kết quả và hiện nay anh đang phải nuôi hai cháu nhỏ là Sùng Thị X, Sùng Thị M, do điều kiện kinh tế khó khăn nên anh làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Vừ Thị C mất tích để các cháu được hưởng chế độ trợ cấp theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp, người đại diện theo ủy quyền của anh Sùng Mí S vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố chị Vừ Thị C mất tích.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp Thẩm phán, Thư ký và người yêu cầu đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án căn cứ vào Điều 68 Bộ luật dân sự và Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự để chấp nhận yêu cầu của anh Sùng Mí S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người đại diện theo ủy quyền và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng: Anh Sùng Mí S có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Vừ Thị C, sinh năm 1983; nơi cư trú cuối cùng: Thôn A, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang mất tích, căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật của việc dân sự là “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.
Về nội dung yêu cầu giải quyết: Ngày 10/3/2020 anh Sùng Mí S có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Vừ Thị C, sinh năm 1983; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn A, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang mất tích. Tòa án đã ban hành Quyết định số 04/2020/QĐ-TA, ngày 16/3/2020 thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là chị Vừ Thị C nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam vào 17 giờ 30 phút ngày 28, 29, 30 tháng 4 năm 2020; nhắn tin trên Báo Công lý trong ba số liên tiếp 32, 33, 34 ra các ngày 17, 22, 24 tháng 4 năm 2020, thời hạn nhắn tin tìm kiếm là 04 tháng, nhưng từ khi nhắn tin tìm kiếm đến nay vẫn không nhận được tin tức gì của chị Vừ Thị C. Đại diện chính quyền địa phương nơi chị Vừ Thị C cư trú xác nhận: Chị Vừ Thị C, sinh năm 1983; nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang có nơi cư trú cuối cùng là: Thôn A, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang và đã biệt tích từ năm 2015 đến nay không có tin tức xác thực về chị C hiện nay đang sống ở đâu. Tại phiên họp ông Nguyễn Xuân Giang là người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu xác định năm 2015 chị Vừ Thị C đã bỏ nhà đi, khi đi không cung cấp địa chỉ nơi ở mới cho gia đình, cũng không khai báo tạm vắng với chính quyền địa phương, từ đó cho đến nay cũng không có tin tức xác thực là còn sống hay đã chết.
Xét thấy yêu cầu tuyên bố chị Vừ Thị C, sinh năm 1983; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn A, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang mất tích của anh Sùng Mí S là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự và khoản 3 Điều 27, Điều 387, 388 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự nên cần chấp nhận.
Anh Sùng Mí S không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích nên Tòa án không xem xét.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Sùng Mí S được miễn toàn bộ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, 388 và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Sùng Mí S đối với chị Vừ Thị C.
Tuyên bố chị Vừ Thị C, sinh năm 1983; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn A, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Sùng Mí S được miễn toàn bộ lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự theo thông báo số 04/2020/TB-TA ngày 16 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang về việc miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí, lệ phí.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định; đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo tính từ ngày quyết định được niêm niêm yết.Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - TAND tỉnh Hà Giang; - VKSND tỉnh Hà Giang; - VKSND huyện Mèo Vạc; - TTTGPLNN tỉnh Hà Giang; - UBND xã Niêm Tòng; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đã ký Nguyễn Thị Nhung |