vanban.org

Quyết định 38/2019/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự giữa chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Đức T.

Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Đức T thuận tình ly hôn vì tình cảm vợ chồng thực sự không còn nữa, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "QĐ thuận tình ly hôn: Nguyễn Thị Thanh H - Nguyễn Đức T"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thoả thuận của các đương sự giữa chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Đức T.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUYÊN HOÁ
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 38/2019/QĐST - HNGĐTuyên Hóa, ngày 09 tháng 8 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vào hồ sơ vụ án thụ lý số 56/2019/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2019, giữa:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm: 1985.

Nơi ĐKHKTT: Thôn X, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Bình.

Hiện tạm trú tại: Trường mầm non xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Bình

Bị đơn: Anh Nguyễn Đức T, sinh năm: 1985

Địa chỉ: Thôn X, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Bình.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 01/8/2019.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 01/8/2019 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự giữa chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Đức T.

2. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Đức T thuận tình ly hôn vì tình cảm vợ chồng thực sự không còn nữa, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Đức T thừa nhận vợ chồng có một đứa con chung tên là Nguyễn Trung T, sinh ngày: 06/3/2015. Hai bên nhất trí tự nguyện thỏa thuận giao con Nguyễn Trung T cho chị Nguyễn Thị Thanh H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, anh Nguyễn Đức T có trách nhiệm và nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) cho đến khi con đủ 18 tuổi. Thời gian tính từ tháng 9/2019.

Chị Nguyễn Thị Thanh H không được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung đối với anh Nguyễn Đức T, khi cần thiết vì lợi ích của con thì anh Thắm có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Đức T tự nguyện thỏa thuận tự phân chia nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về công nợ chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Đức T thừa nhận vợ chồng không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh H đã nộp tạm ứng án phí 300.000đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa theo biên lai số: 0003727 ngày 12/6/2019 nay thuận chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 150.000đồng và được nhận lại 150.000đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa.

Án phí cấp dưỡng nuôi con anh Nguyễn Đức T phải chịu 150.000đồng. Chị Nguyễn Thị Thanh H và anh Nguyễn Đức T tự nguyện thỏa thuận số tiền án phí 150.000 đồng mà chị Hương được nhận lại sẽ được khấu trừ vào khoản tiền án phí cấp dưỡng nuôi con mà anh Nguyễn Đức T phải chịu.

Như vậy hai bên đã nộp đủ các khoản án phí.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ