vanban.org

Quyết định 377/2020/QĐ-TA

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/10/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với ông Phạm Văn T. Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở Cai nghiện ma túy – Bảo trợ xã hội Phú Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QĐ xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 377/2020/QĐ-TAThủ Đức, ngày 16 tháng 10 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Huỳnh Quốc Thịnh.

2. Thư ký phiên họp: Bà Vi Thị Lan.

Ngày 16 tháng 10 năm 2020, tại Cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2, Thành

phố Hồ Chí Minh, Tòa án nh n d n quận Thủ Đ c tiến hành phiên họp xem

xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt

buộc theo Quyết định mở phiên họp số 330/QĐ-TA ngày 09 tháng 10 năm 2020

đối với:

Họ và tên: Phạm Văn T

Giới tính: Nam.

Sinh năm: 1975

D n tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

Trình độ học vấn: 6/12.

Nguyên quán: tỉnh Tiền Giang

Hộ khẩu thường trú: Tổ 7, ẤP 4, xã T, huyện C tỉnh Tiền Giang.

Chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: Không.

Về nh n th n: Ngày 09/02/2017, bị Công an Quận 12 Thành phố Hồ Chí

Minh bắt về hành vi sử dụng chất ma túy (Bút lục 17).

Con ông: Phạm Văn D và bà: Phạm Thị E.

(Ông Phạm Văn T có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lý Hồ Nhựt Hoàng - Ch c vụ: Chuyên

viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Thủ Đ c (có mặt).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên họp:

Ông Võ Cao Hùng - Kiểm sát viên (có mặt).

NHẬN THẤY:

Theo văn bản số 1654/LĐTB ngày 01/10/2020 của Phòng Lao động -

Thương binh và Xã hội quận Thủ Đ c cùng các tài liệu, ch ng c khác do cơ quan ch c năng thu thập, thể hiện:

Ngày 27/7/2020, Công an phường B, quận Thủ Đ c lập biên bản vi phạm

hành chính đối với ông Phạm Văn T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Công an phường B đã đưa ông T đi xét nghiệm chất ma túy. Tại biên bản

xét nghiệm chất ma túy ngày 26/7/2020 của Trạm Y tế phường B, quận Thủ Đ c xác định ông Phạm Văn T dương tính với chất ma túy. Phiếu trả lời kết quả ngày 31/7/2020 của Cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2 kết luận ông Phạm Văn T nghiện ma túy (Amphetamine).

Quá trình tiến hành xác minh tình trạng cư trú, thu thập ch ng c về độ

tuổi, nh n th n của người nghiện ma túy, xác định ông Phạm Văn T đủ 18 tuổi, không có nơi cư trú ổn định.

Tại bản tường trình của ông Phạm Văn T cũng như biên bản ghi lời khai do

Công an phường B, quận Thủ Đ c lập thể hiện: Ông Phạm Văn T xác nhận bắt đầu sử dụng ma tuý từ năm 2016, lần cuối ông T sử dụng là vào ngày 26/7/2020.

Do đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Thủ Đ c đề nghị

Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa ông Phạm Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy – Bảo trợ xã hội Phú Văn. (Địa chỉ: xã Phú Văn, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước).

Tại phiên họp, Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận

Thủ Đ c giữ nguyên ý kiến, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T trong thời gian từ 21 đến 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nh n d n quận Thủ Đ c phát biểu ý kiến về việc

tu n theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Tòa án, Thẩm phán được ph n công giải quyết việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản dưới luật quy định. Đương sự thực hiện đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T trong thời gian từ 15 đến 18 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên c u các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại

phiên họp và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ch ng c , ý kiến của đại diện

cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, có cơ sở xác định:

Về thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan đề

nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với ông Phạm Văn T là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Thủ Đ c,

Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nh n d n quận Thủ Đ c, Thành phố Hồ Chí

Minh có thẩm quyền xem xét yêu cầu trên của Phòng Lao động - Thương binh và

Xã hội quận Thủ Đ c theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số

09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định

trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại

Tòa án nhân dân.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Ngày

27/8/2020, Công an phường B, quận Thủ Đ c lập biên bản vi phạm hành chính

đối với ông Phạm Văn T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày

16/10/2020, Tòa án nh n d n quận Thủ Đ c, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành

mở phiên họp xem xét yêu cầu áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa vào cơ sở

cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T là còn trong thời hiệu được quy định

tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Việc xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa

vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T đã được cơ quan ch c

năng thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thời hạn theo quy định tại Điều 103;

Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 3; Điều 4; khoản 1 Điều

8; các Điều 9, 10, 11, 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của

Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai

nghiện bắt buộc và Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính

Phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày

30/12/2013 của Chính phủ.

Tại phiên họp, ông Phạm Văn T thừa nhận hành vi vi phạm hành chính là

sử dụng trái phép chất ma túy. Tòa án xét thấy lời khai nhận của ông T phù hợp

với các ch ng c có trong hồ sơ, khi bị Công an phát hiện lập biên bản vi phạm

ông T nhận lỗi vi phạm. Tại Bản tường trình; Biên bản ghi lời khai, ông T đều

thừa nhận có sử dụng ma túy. Các kết quả xét nghiệm đều xác định ông T dương

tính với ma túy. Về nơi cư trú: Tại phiên họp cũng như trong quá trình các cơ

quan ch c năng lập hồ sơ, ông T khai nhận không có nơi cư trú ổn định.

Từ những tài liệu, ch ng c có trong hồ sơ như biên bản vi phạm hành

chính, bản tường trình, kết quả xét nghiệm ma túy, phiếu trả lời về tình trạng

nghiện ma túy hiện tại, cùng các tài liệu, ch ng c khác về độ tuổi, tình trạng cư trú của ông T. Có đủ cơ sở pháp lý kết luận ông Phạm Văn T là người đủ 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính, bị nghiện ma túy, đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và không có nơi cư trú ổn định, là đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính. Do vậy, việc Phòng Lao Động - Thương binh và Xã hội quận Thủ Đ c đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T theo Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính là có căn c pháp luật.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông Phạm Văn T đã vi phạm trật

tự, an toàn xã hội, nghiện ma túy không những ảnh hưởng tới s c khỏe của bản th n, g y thiệt hại về vật chất, tinh thần, mà còn là nguyên nh n của nhiều tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Theo tài liệu thể hiện trong hồ sơ và tại phiên họp, ông T có thái độ thành khẩn do đó Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa ông T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian phù hợp để cai nghiện, lao động, học tập dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện, để ông được tái hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Vì các lẽ trên;

Căn c điểm c khoản 2 Điều 3; điểm d khoản 2 Điều 6; Điều 95; Điều 96;

Điều 103; Điều 104; Điều 105; Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính;

Căn c khoản 2 Điều 3; Điều 4; khoản 1 Điều 8; Điều 9; Điều 10; Điều 11;

Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

Căn c Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về việc sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

Căn c khoản 1 Điều 3; Điều 9; Điều 20; Điều 22; Điều 23; Điều 30; Điều

31; Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nh n d n.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với ông Phạm Văn T.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở Cai nghiện ma túy – Bảo trợ xã hội Phú

Văn. (Địa chỉ: xã Phú Văn, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám)

tháng, kể từ ngày 27/7/2020.

Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt

buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho các cá nh n, cơ quan,

tổ ch c có liên quan biết.

3. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết

định, ông Phạm Văn T có quyền khiếu nại; Phòng Lao động – Thương binh và Xã

hội quận Thủ Đ c có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nh n d n quận Thủ Đ c có

quyền kháng nghị quyết định của Tòa án. Đơn khiếu nại, văn bản kiến nghị,

kháng nghị phải gửi đến Tòa án nh n d n quận Thủ Đ c nêu rõ lý do và căn c .

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2, Cơ sở

Cai nghiện ma túy – Bảo trợ xã hội Phú Văn có trách nhiệm thi hành quyết định

này.

Cỡ chữ