vanban.org

Quyết định 375/2020/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Nguyễn Ngọc Tân xin ly hôn với ông Lê Quốc Cường"
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
T
N NH N D N
H N CL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BT
Số: 375/2020/QĐST-HNGĐ
CL, ngày 19 tháng 11 năm 2020.

Q ẾT ĐỊNH

CÔN NHẬN TH ẬN TÌNH L HÔN

VÀ SỰ THOẢ TH ẬN C C C ĐƯƠN SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 327/2020/TLST/HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2020 giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc T - sinh năm 1993; địa chỉ: ấp VT, xã VT, huyện VT, thành phố CT.

Bị đơn: ông Lê Quốc C - sinh năm 1990; địa chỉ: ấp HT, xã HN, huyện CL, tỉnh BT.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 55, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 11 tháng 11 năm 2020.

XÉT THẤ :

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 11 tháng 11 năm 2020 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

Q ẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Nguyễn Ngọc T và ông Lê Quốc C.

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Bà Nguyễn Ngọc T và ông Lê Quốc C không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.

Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc T đồng ý cho ông Lê Quốc C được quyền trực tiếp nuôi một người con chung của ông bà tên Lê Quốc Th - sinh ngày 08/01/2013, hiện cháu Th đang sống chung với ông C và ông C không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Sự thỏa thuận này phù hợp với nguyện vọng của con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom con mà không ai được cản trở họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con chung, bà T và ông C có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức và phương thức cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp có căn cứ người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, trên cơ sở lợi ích của con thì người thân thích, Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Ngọc T và ông Lê Quốc C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc T và ông Lê Quốc C đều tự khai không có nợ chung, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm là: 150.000đ (Một trăm năm mươi ngàn đồng).

Bà Nguyễn Ngọc T tự nguyện nộp 150.000đ (Một trăm năm mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền bà T đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai số 0001830 ngày 21/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL được khấu trừ sang tiền án phí. Hoàn trả cho bà T số tiền chênh lệch còn lại là 150.000đ (Một trăm năm mươi ngàn đồng).

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ