- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa ông T và bà C"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Trịnh Minh T và bà Nguyễn
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 373/2020/QĐST-HNGĐ C h ợ Lách, ngày 17 tháng 11 năm 2020 | Số: 373/2020/QĐST-HNGĐ C h ợ Lách, ngày 17 tháng 11 năm 2020 |
HUYỆN CHỢ LÁCH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ vào hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 263/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2020, giữa: - Nguyên đơn: Ông Trịnh Minh T, sinh năm: 1980; địa chỉ: ấp B, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre. - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm: 1980; địa chỉ: ấp B, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 55, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 09 tháng 11 năm 2020.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 09 tháng 11 năm 2020 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Trịnh Minh T và bà Nguyễn Thị Hồng C. 2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: * Về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Ông Trịnh Minh T và bà Nguyễn Thị Hồng C không yêu cầu Tòa án giải quyết gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn. * Về con chung:
- Ông Trịnh Minh T được quyền nuôi con chung tên Trịnh Minh Q, sinh ngày: 05/7/2003, hiện đang sống chung với ông T (cháu Q cũng có nguyện vọng sống chung với ông T). Ông T không yêu cầu bà C cấp dưỡng nuôi con. - Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. - Vì lợi ích của con chung, các đương sự hoặc các nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi có lý do chính đáng, các đương sự có quyền thỏa thuận giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. * Về tài sản chung: Ông Trịnh Minh T và bà Nguyễn Thị Hồng C không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Về nợ chung: Ông Trịnh Minh T và bà Nguyễn Thị Hồng C xác định không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Về án phí: Ông Trịnh Minh T nhận chịu 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001729 ngày 30/9/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, hoàn trả cho ông Trịnh Minh T số tiền chênh lệch còn lại là 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Chợ Lách; - Chi cục T.H.A dân sự huyện Chợ Lách; - UBND xã nơi ĐKKH; - Phòng KTNV-T.H.A TAND tỉnh Bến Tre; - Lưu: hồ sơ vụ án, Vp, Bp. | THẨM PHÁN Phạm Thị Thu Thanh |