vanban.org

Quyết định 37/2022/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Lư Văn  đối với chị Võ Thị Th.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về hôn nhân: Ông Lư Văn  và bà Võ Thị Th thống nhất thuận tình ly hôn với nhau. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HONG"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Lư Văn  đối với chị Võ Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUYÊN H
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 37/2022/QĐST-HNGĐDuyên H, ngày 26 tháng 12 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 74/2022/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 12 năm 2022 giữa:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị Th, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp Lộ B, xã Đôn X, huyện Duyên H, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: Ông Lư Văn Â, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp Lộ B, xã Đôn X, huyện Duyên H, tỉnh Trà Vinh.

Con chung: Cháu Lư Gia H, sinh ngày 09/4/2015.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 55, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 16 tháng 12 năm 2022.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 16 tháng 12 năm 2022 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Lư Văn  đối với chị Võ Thị Th.

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về hôn nhân: Ông Lư Văn  và bà Võ Thị Th thống nhất thuận tình ly hôn với nhau.

Về con chung: Ông Lư Văn  và bà Võ Thị Th khai xác nhận có con chung là cháu Lư Gia H, sinh ngày 09/4/2015. Ông Lư Văn  đồng ý giao con chung cho bà Võ Thị Th trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, nguyện vọng của cháu cháu Lư Gia H cũng yêu cầu ở với bà Th.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Tòa án có giải thích quy định của pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con, nhưng đương sự không yêu cầu nên không giải quyết chung trong vụ việc ly hôn.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về quyền, nghĩa vụ tài sản chung: Ông Lư Văn  và bà Võ Thị Th khai xác nhận không có, không yêu cầu gì khác nên Tòa án giải quyết.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn 150.000 đồng.

Bà Võ Thị Th chịu toàn bộ 150.000 đồng và được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số: 0012421 ngày 07/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duyên H, tỉnh Trà Vinh, trả lại bà Võ Thị Th tiền tạm ứng án phí 150.000 đồng, theo biên lai thu tiền số: 0012421 ngày 07/12/2022 nêu trên.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”. * Nơi nhận:

Cỡ chữ