vanban.org

Quyết định 37/2022/QĐST-DS — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 06/06/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên tham gia hòa giải: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1953 Địa chỉ: Thôn Lam Thôn, xã Thuần Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1981 Địa chỉ: Số 88, Ngũ Hữu Lợi, phường Cửa N, thành phố N Định, tỉnh N Định. Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1987 Địa chỉ: Thôn Trung Tiến, xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "yêu cầu công nhận kết quả hòa giải"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên tham gia hòa giải: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1953 Địa chỉ: Thôn Lam Thôn, xã Thuần Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẬU LỘC
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:37/2022/QĐST-DSHậu Lộc, ngày 06 tháng 6 năm 2022.

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÕA GIẢI THÀNH TẠI TÕA ÁN

Căn cứ các Điều 32, 33, 34, 35, 36 của Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Căn cứ vào biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án ngày 20 tháng 5 năm 2022, về việc các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ việc Tranh chấp về thừa kế tài sản thụ lý số 31/2022/TL-DS ngày 21 tháng 4 năm 2022 giữa: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1953 Địa chỉ: Thôn Lam Thôn, xã Thuần Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1957. Địa chỉ: Thôn Nhuệ Thôn, xã Thuần Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. 2. Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1981 Địa chỉ: Số 88, Ngũ Hữu Lợi, phường Cửa N, thành phố N Định, tỉnh N Định. 3. Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1987 Địa chỉ: Thôn Trung Tiến, xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. 4. Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1990 Địa chỉ: Thôn Nhuệ Thôn, xã Thuần Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. (Chị Nguyễn Thị Ng ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Ng tham gia giải quyết tranh chấp chia tài sản thừa kế tại Tòa án).

XÉT THẤY:

Những nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên đương sự được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải về việc giải quyết toàn bộ vụ việc là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan tổ chức cá nhân khác; Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, không có bên nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên tham gia hòa giải: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1953 Địa chỉ: Thôn Lam Thôn, xã Thuần Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Bị đơn: - Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1957. Địa chỉ: Thôn Nhuệ Thôn, xã Thuần Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

- Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1981 Địa chỉ: Số 88, Ngũ Hữu Lợi, phường Cửa N, thành phố N Định, tỉnh N Định.

- Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1987 Địa chỉ: Thôn Trung Tiến, xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1990 Địa chỉ: Thôn Nhuệ Thôn, xã Thuần Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. 2. Nội dung thống nhất của các đương sự cụ thể như sau: Ông Nguyễn Huy Huân, sinh năm 1912 (chết năm 1992) và bà Nguyễn Thị Tuất, sinh năm 1914 (chết năm 2005) có hai người con là bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị Lịch, sinh năm 1959 (bà Lịch chết năm 2010). Bà Lịch có chồng là ông Nguyễn Văn L và các con của bà Lịch là chị Nguyễn Thị Ng, chị Nguyễn Thị Ng, anh Nguyễn Văn N. Ông Huân và bà Tuất có tài sản là 01 thửa đất diện tích 393 m2 (đất ở nông thôn 293 m2, đất cây lâu năm 100 m2) tại thửa đất số 540, tờ bản đồ số 12 (Bản đồ địa chính năm 2002) tại thôn Nhuệ Thôn, xã Thuần Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Vị trí thửa đất: Phía đông giáp phần đất của gia đình ông Nguyễn Huy Lạng dài 23,60 m; Phía tây giáp hộ bà Nguyễn Thị Bảy dài 20,52m; Phía N giáp đường liên thôn dài 18,0 m; Phía bắc giáp giáp phần đất sản xuất nông nghiệp dài 17,88 m. Tài sản trên đất có 01 ngôi nhà cấp IV - 03 gian xây năm 1978 (phần phía đông) do ông Huân và bà Tuất xây; 01 ngôi nhà cấp IV - 03 gian xây năm 2001 (phần đất phía tây) do ông L và bà Lịch xây. Ông Huân, bà Tuất chết không để lại di chúc nên tài sản của ông Huân, bà Tuất được thừa kế cho bà S và bà Lịch. Bà Lịch chết năm 2010 không để lại di chúc nên phần tài sản thừa kế được hưởng của bà Lịch được thừa kế chuyển tiếp cho chồng và con của bà Lịch gồm: ông Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị Ng, chị Nguyễn Thị Ng, anh Nguyễn Văn N. * Các đương sự thống nhất về chia tài sản thừa kế như sau:

- Chia cho bà Nguyễn Thị S phần tài sản 196,5 m2 đất (146,5 m2 đất ở, 50 m2 đất cây lây năm) khu đất phía đông có vị trí tứ cận: Phía đông giáp phần đất của gia đình ông Nguyễn Huy Lạng dài 23,6 m; Phía tây giáp phần đất của anh Nguyễn Văn N (đứng tên) dài 22,11m; Phía N giáp đường liên thôn dài 8,70 m; Phía bắc giáp giáp phần đất sản xuất nông nghiệp dài 8,62 m.

- Chia cho ông Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị Ng, chị Nguyễn Thị Ng, anh Nguyễn Văn N phần tài sản 196,5 m2 đất (146,5 m2 đất ở, 50 m2 đất cây lâu năm) khu phía đông có vị trí tứ cận: Phía đông giáp phần đất của bà Nguyễn Thị S dài 22,11 m; Phía tây giáp hộ bà Nguyễn Thị Bảy dài 20,52m; Phía N giáp đường liên thôn dài 9,30 m; Phía bắc giáp giáp phần đất sản xuất nông nghiệp dài 9,28 m. Tài sản trên do anh Nguyễn Văn N đại diện đứng tên quyền S dụng. (Có sơ đồ kèm theo). Tài sản trên đất; công sức quản lý di sản hai bên thống nhất tự thỏa thuận không đề nghị giải quyết. Các đương sự được quyền liên hệ cơ quan chức năng để cấp giấy chứng nhận quyền S dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định pháp luật. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật Ngy sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. 4. Quyết định này được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. 5. Các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ