vanban.org

Quyết định 37/2021/QĐST-VHNGĐ — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc công nhận cha con TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN – TP. ĐÀ NẴNG Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Công nhận cha- con"
  • Tòa quyết gì? SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 37/2021/QĐST-VHNGĐNgũ Hành Sơn, ngày 14 tháng 5 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc công nhận cha con

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN – TP. ĐÀ NẴNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Văn Lâm

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Xuân Hoàng – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 22/2021/TLST-VHNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2021 về việc “Yêu cầu công nhận cha con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2021/QĐST-VHNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2021 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Ông Nguyễn Đình P, sinh năm: 1993

Trú tại: Tổ 49 An T, phường Hòa Q, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng- Có mặt;

- Người được yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Cháu Lê Đăng K, sinh ngày: 16/02/2019

Trú tại: Tổ 49 An T, phường Hòa Q, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng. Đại diện hợp pháp của cháu Lê Đăng K là bà Lê Thị Kim O (là mẹ đẻ), sinh năm 1994; Trú tại: Tổ 49 An T, phường Hòa Q, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng- Có mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Lê Thị Kim O, sinh năm 1994;

Trú tại: Tổ 49 An T, phường Hòa Q, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng- Có mặt;

2. Ông Đinh Bá Q1, sinh năm: 1989

Trú tại: Thôn Hoài H, xã Thái S1, huyện Thái T1, tỉnh Thái B- Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Trước đây ông Nguyễn Đình P và bà Lê T Kim O có quan hệ tình cảm với nhau và đến năm 2019 bà O sinh cháu Lê Đăng K. Nhưng trong thời gian đó bà O chưa ly hôn chồng cũ là ông Đinh Bá Q1, tuy nhiên bà O và ông Q1 biết là không phải con chung nên đã làm giấy khai sinh mang họ mẹ. Đến tháng 01/2020 bà O và ông Q1 đã có Quyết định thỏa thuận ly hôn, tháng 11/2020 ông P và bà O đã đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Qúy, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng và sống chung từ đó đến nay.

Nay ông Nguyễn Đình P yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng giám định ADN của ông P và cháu K làm cơ sở công nhận ông Nguyễn Đình P và cháu Lê Đăng K là cha con ruột.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn phát biểu ý kiến về việc Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đầy đủ và đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc, đồng thời những người tham gia tố tụng cũng đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 39 của Bộ luật dân sự; khoản 10 Điều 29, Điều 366, Điều 367, Điều 369 và Điều 370 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 90, khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận nội dung đơn ông Nguyễn Đình P yêu cầu Tòa án công nhận ông Nguyễn Đình P và cháu Lê Đăng K là cha con ruột.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng nhận định: [1] Việc ông Nguyễn Đình P làm đơn yêu cầu công nhận cha con ruột đối với cháu Lê Đăng K là thuộc quyền công dân được pháp luật bảo vệ và bà đã cung cấp đầy đủ các tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu của mình theo đúng quy định pháp luật, đơn yêu cầu của ông P có hình thức và nội dung đầy đủ theo quy định tại Điều 362 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi người yêu cầu cung cấp đầy đủ các chứng cứ liên quan thấy rằng nội dung yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn được quy định tại khoản 10 Điều 29 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự “Yêu cầu công nhận cha con” của ông Nguyễn Đình P đề ngày 05/3/2021 được tóm tắt như sau:

Trước đây ông Nguyễn Đình P và bà Lê T Kim O có quan hệ tình cảm với nhau và đến năm 2019 bà O sinh cháu Lê Đăng K. Nhưng trong thời gian đó bà O chưa ly hôn chồng cũ là ông Đinh Bá Q1, tuy nhiên bà O và ông Q1 biết là không phải con chung nên đã làm giấy khai sinh mang họ mẹ. Đến tháng 01/2020 bà O và ông Q1 đã có Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự, theo Quyết định số 04/2000/QĐST-HNGĐ ngày 08/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Ngày 11/6/2020 ông Nguyễn Đình P và bà Lê Thị Kim O đã đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Qúy, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng và sống chung từ đó đến nay.

Nay ông Nguyễn Đình P yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng giám định ADN của ông P và cháu K làm cơ sở công nhận ông Nguyễn Đình P và cháu Lê Đăng K là cha con ruột. [3] Qua đơn trình bày của ông Nguyễn Đình P xét thấy: Việc ông Nguyễn Đình P xác nhận cháu Lê Đăng K là con đẻ của ông Nguyễn Đình P là hoàn toàn có thật. Tại kết quả giám định ADN số PL-210407 ngày 09/4/2021 của Trung tâm xét nghiệm LOCI ADN tại Đà Nẵng đã kết luận:

Người có mẫu ADN ký hiệu Nguyễn Đình P và người có mẫu ADN ký hiệu Lê Đăng K có cùng quan hệ huyết thống Cha - Con.

Theo đơn trình bày ý kiến của ông Nguyễn Đình P và bà Lê Thị Kim O đều xác nhận cháu Lê Đăng K là con ruột của ông Nguyễn Đình P và đều thống nhất với yêu cầu của ông Nguyễn Đình P về việc công nhận ông Nguyễn Đình P là cha đẻ của cháu Lê Đăng K.

Qua ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tại phiên họp về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Đình P về việc công nhận cha - con là có căn cứ. [4] Từ những nhận định trên, xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Đình P về việc truy nhận cha con, nhằm tạo điều kiện cho cháu K được nhìn nhận huyết thống cũng như cha mẹ đẻ của mình. [5] Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự ông Nguyễn Đình P được miễn nộp lệ phí sơ thẩm.

QUẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Điều 39 của Bộ luật dân sự; khoản 10 Điều 29, Điều 366, Điều 367, Điều 369 và Điều 370 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 90, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Đình P về việc công nhận cha con.

Tuyên bố: Ông Nguyễn Đình P, sinh năm: 1993; Trú tại: Tổ 49 An T, phường Hòa Q, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng là cha đẻ của cháu Lê Đăng K, sinh ngày: 16/02/2019; Trú tại: Tổ 49 An T, phường Hòa Q, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng.

- Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Đình P được miễn nộp lệ phí sơ thẩm, theo điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UNTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Hoàn trả cho ông Nguyễn Đình P số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007217 ngày 16/3/2021, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng.

- Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.

- Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ