- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà D đối với ông H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị Bạch D.
- Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 369/2020/QĐST-DS | Quận 8, ngày 28 tháng 9 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Tuyết bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Minh Tường.
Thư ký phiên họp: Bà Hồ Thị Chí Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà D Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2020 tại Trụ sở của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 516/2019/TLST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 229/2020/QĐST-DS-MPH ngày 18 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Bạch D, sinh năm 1975 {sau đây gọi tắt là bà D (Có mặt)};
Địa chỉ thường trú: Số A đường B, Phường 2, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ liên lạc: Số C đường D, Phường 4, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Bà Phí Thị Th, sinh năm 1958 {sau đây gọi tắt là bà Th (Vắng mặt)};
Địa chỉ thường trú: Số E đường G, Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ tạm trú/ liên lạc: Số H, ấp I, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Ông Nguyễn Mạnh Đ, sinh năm 1972 {sau đây gọi tắt là ông H (Vắng mặt);
Địa chỉ thường trú: Số K đường L, phường Bình Trưng Tây, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.3. Ông Nguyễn Mạnh N, sinh năm 1974 {sau đây gọi tắt là ông N (Văng mặt)};
Địa chỉ thường trú: Số E đường G, Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ tạm trú/ liên lạc: Số M, ấp N, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo nội dung đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 09 tháng 10 năm 2019 và quá trình tố tụng giải quyết việc dân sự, người yêu cầu là bà D trình bày:
Bà D có một người em ruột tên là Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1978 (sau đây gọi tắt là ông H) đã bỏ nhà đi biệt tích từ năm 2008 cho đến này không rõ tin tức.
Trước năm 2008, cha của bà D là ông Nguyễn Văn Q và người mẹ kế là bà Phí Thị Th cùng với ông H có đăng ký hộ khẩu thương trú và thực tế cư trú tại địa chỉ Số E đường G, Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2008 thì bán căn nhà này và chuyển về địa chỉ Số H, ấp I, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh cư trú và sinh sống. Sau khi ông Q và bà Th bán căn nhà Số E đường G, Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông H đã bỏ nhà đi biệt tích cho đến nay.
Công an Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận ông Q, bà Th và ông H có đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại địa chỉ Số E đường G, Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1997 đến năm 2008 đã bán nhà đi khỏi địa phương.
Công an xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận ông Q và bà Th có tạm trú tại địa chỉ Số H, ấp I, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2008 cho đến nay.
Vào thời điểm từ năm 2008 cho đến nay gia đình bà D và chính quyền địa phương đã không còn biết gì về tin tức của ông H. Bà D và hai người anh ruột là ông H và ông N cùng với bà Th đã rất nhiều lần đi tìm kiếm ông H nhưng không rõ tin tức gì về ông H. Bà D và gia đình không biết hiện nay ông H đang làm gì, ở đâu; bà D cũng đã thực hiện việc đưa thông tin đăng báo nhắn tìm người thân (nhắn tìm ông H) được đăng trên Báo Mua & Bán phát hành ngày thứ ba, 15/10/2019, tuy nhiên đến nay bà D và gia đình vẫn không nhận được bất cứ thông tin gì về ông H và cũng không rõ tin tức gì về ông H.
Khi còn sống ông H là người sống độc thân chưa có vợ (chưa đăng ký kết hôn lần nào), ông H không có con.
Cha ruột của bà D và ông H là ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1939 đã chết vào ngày 13/5/2019 theo giấy Trích lục khai tử số: 29/TLKT ngày 18/5/2019 của Uỷ ban nhân dân Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp.
Mẹ ruột của bà D và ông H là bà Vũ Thị V, sinh năm 1939 đã chết vào ngày 24/02/2000 theo Giấy chứng tử số: 03 Quyển số 01. 2000 ngày 24/02/2020 của Uỷ ban nhân dân Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp.
Cha ruột và mẹ ruột của bà D và ông H là ông Nguyễn Văn Q và bà Vũ Thị V đã chết có để lại di sản thừa kế.
Ông Nguyễn Văn Q và bà Vũ Thị V có 04 (Bốn) người con, gồm:
1. Nguyễn Mạnh Đ, sinh năm 1972;
Địa chỉ thường trú: Số K đường L, phường Bình Trưng Tây, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Nguyễn Mạnh N, sinh năm 1974;
Địa chỉ thường trú: Số E đường G, Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ tạm trú/ liên lạc: Số M, ấp N, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nguyễn Thị Bạch D, sinh năm 1975;
Địa chỉ thường trú: Số A đường B, Phường 2, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ liên lạc: Số C đường D, Phường 4, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1978;
Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Số E đường G, Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Văn Q và bà Vũ Thị V không có con riêng, không có con nuôi.
Sau khi mẹ ruột của bà D là bà Vũ Thị V chết thì cha ruột của bà D là ông Nguyễn Văn Q kết hôn với người mẹ kế là bà Phí Thị Th.
Ông Nguyễn Văn Q và bà Phí Thị Th không có con chung và không có con nuôi.
Bà D và ông H không còn người thân thích nào khác.
Để làm thủ tục kê khai di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Q và bà Vũ Thị V để lại và để bổ túc hồ sơ khi tiến hành các thủ tục hành chính với các cơ quan, tổ chức. Nay, bà D yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố ông H mất tích căn cứ theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Quá trình giải quyết việc dân sự này, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Th, ông và ông N đã có bản tự khai đồng ý và thống nhất với yêu cầu của bà D về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với ông H.
Tại phiên họp:
Bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố ông H mất tích.
Bà D không yêu cầu về người quản lý tài sản của ông H vì ông H không tài sản.
Bà Th, ông Đ và ông N vắng mặt tại phiên họp, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của họ.
Chủ tọa phiên họp đã công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến phiên họp hôm nay, Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự khi tiến hành giải quyết việc dân sự này. Bà D và những người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Th, ông Đ và ông N đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà D và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã đảm bảo thủ tục đúng theo quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự, đề nghị tuyên bố mất tích đối với ông H, sinh năm 1978.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Việm kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 8 nhận định:
Về tố tụng: Quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự, quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết của Tòa án và sự vắng mặt của đương sự tại phiên họp:
- Quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự, quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông H là em ruột của bà D. Do ông H biệt tích 02 (Hai) năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực là còn sống; trước khi biệt tích ông H có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ Số E đường G, Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 68 của Bộ Luật Dân sự năm 2015; đây là việc dân sự về “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, nên bà D có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích đối với ông H.
- Sự vắng mặt của đương sự tại phiên họp: Tại phiên họp, bà Th, ông Đ và ông N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có đơn xin vắng mặt không tham gia phiên họp. Sự vắng mặt này của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết việc dân sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị Tòa án vẫn tiến hành phiên họp. Căn cứ Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án quyết định vẫn tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt các đương sự theo quy đinh của pháp luật.
Về nội dung yêu cầu của đương sự:
Theo nội dung đơn yêu cầu, lời khai (lời trình bày) của người yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đã đủ căn cứ để xác định: Ông H, sinh năm 1978 có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ Số E đường G, Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh trước khi biệt tích vào năm 2008 (theo kết quả trả lời xác minh của Công an Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh).
Bà D, bà Th, ông Đ và ông N đều có lời khai thống nhất về việc ông H đã biệt tích từ năm 2008, gia đình có đăng tin tìm kiếm ông H đã rời khỏi địa phương từ năm 2008 đăng trên Báo Mua & Bán phát hành ngày thứ ba, 15/10/2019 nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông H còn sống. Căn cứ vào lời khai của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã xác định được thời điểm có tin tức cuối cùng đối với ông H là vào năm 2008.
Do không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng mà chỉ xác định vào năm 2008 là thời điểm biết được tin tức cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích; căn cứ vào khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án xác định thời điểm có tin tức cuối cung về ông H là vào năm 2008.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của bà D, Tòa án nhân dân Quận 8 đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyến bố mất tích đối với ông H. Thông báo này đã được đăng, phát trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ thể: Đã được đăng tin tìm kiếm người bị tuyên bố mất tích đối với ông H trên báo Thanh Niên trong 03 (Ba) số liên tiếp là số 132 thứ hai ngày 11 tháng 5 năm 2020, số 133 thứ ba ngày 12 tháng 5 năm 2020 và số 134 thứ tư ngày 13 tháng 5 năm 2020; đã được phát sóng tìm kiếm 03 (Ba) lần trong 03(Ba) ngày liên tiếp trên Đài truyền hình Việt Nam VTV9 trong các ngày 14, 15 và 16 tháng 5 năm 2020 từ 17 giờ 58 phút đến 18 giờ; được đăng tin tìm kiếm trên Cổng thông tin điện tử Thành phố Hồ Chí Minh và Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông H, sinh năm 1978 là còn sống.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để xác định ông H đã biệt tích 02 (Hai) năm liền trở lên tính từ năm 2008 đến ngày bà D nộp đơn yêu cầu, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông H là còn sống, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà D đối với ông H, sinh năm 1978 là có cơ sở xem xét để chấp nhận.
Xét yêu cầu của bà D về việc yêu cầu tuyên bố ông H, sinh năm 1978 là đã chết là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà D tuyên bố ông H là mất tích. Đề nghị này phù hợp với nhận định của Tòa án, nên yêu của bà D được Tòa án chấp nhận.
Về quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: Bà D và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu về quản lý tài sản của ông H vì ông H không có tài sản, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà D phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 36, Điều 48, khoản 2 Điều 67, khoản 4 Điều 143, các Điều 149, 150, 361, 367, 369, 370, 371, 372, 387, 388 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 68; khoản 2 Điều 147 và Điều 148 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị Bạch D.
Tuyên bố ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1978; nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ Số E đường G, Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích.
Ông Nguyễn Mạnh H là em ruột của ông Nguyễn Mạnh Đ, ông Nguyễn Mạnh N và bà Nguyễn Thị Bạch D.
2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Buộc bà Nguyễn Thị Bạch D phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền bà Nguyễn Thị Bạch D đã nộp tạm ứng lệ phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2019/0012561 ngày 11 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Bạch D đã nộp đủ lệ phí.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị :
Đương sự là bà Nguyễn Thị Bạch D có quyền kháng cáo quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự này trong thời hạn 10 (Mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định (ngày 28/9/2020).
Các đương sự là bà Phí Thị Th, Nguyễn Mạnh Đ và Nguyễn Mạnh N không có mặt tại phiên họp nên có quyền kháng cáo quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự này trong thời hạn 10 (Mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được tống đạt hợp lệ (được thông báo, niêm yết) theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự này trong thời hạn 10 (Mười) ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định (ngày 28/9/2020).
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 8; - Tòa án nhân dân Tp.Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân Tp.Hồ Chí Minh; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8; - Lưu Văn phòng và hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Minh Tường |