- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Kháng nghị số 131/2018/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 07 tháng 8 năm 2018 của Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 337 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Quyết định giám đốc thẩm | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 361/2018/DS-GĐT Ngày: 22/11/2018 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Huỳnh Sáng
Các Thẩm phán:
1. Ông Võ Văn Cường
2. Ông Phạm Trung Tuấn
Thư ký phiên tòa: ông Trần Ngọc Tuấn – Thẩm tra viên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông A, sinh năm 1964
Địa chỉ: đường M, phường N, thành phố P, tỉnh Lâm Đồng.
2. Bị đơn: chị B, sinh năm 1987 và anh C, sinh năm 1984.
Địa chỉ: đường M, phường N, thành phố P, tỉnh Lâm Đồng.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà D, sinh năm 1976.
Địa chỉ: đường M, phường N, thành phố P, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông A và đại diện hợp pháp của ông Lục là ông E trình bày:
Ông A cho vợ chồng chị B, anh C vay tiền hai lần: Lần 1 (ngày 06/12/2016): 1.500.000.000 đồng. Thời hạn vay đến ngày 30/12/2016; lần 2 (ngày 18/01/2017): 600.000.000 đồng, không xác định thời hạn. Tổng cộng: 2.100.000.000 đồng, lãi suất 1,5%/tháng. Vợ chồng chị B, anh C tự viết, ký, ghi họ tên vào giấy vay tiền. Khi đến hạn, ông A nhiều lần đòi nợ nhưng chị B, anh C không trả, vì vậy, ông A yêu cầu Tòa án buộc chị B, anh C trả nợ gốc là 2.100.000.000 đồng và nợ lãi là 211.500.000 đồng.
Bị đơn chị B và anh C trình bày:
Vợ chồng anh chị có vay của bà D hai lần: Lần 1: 1.500.000.000 đồng. Thời hạn vay đến ngày 30/12/2016; lần 2 (ngày 18/01/2017): 600.000.000 đồng. Tổng cộng: 2.100.000.000 đồng. Khi vay, anh chị có ký giấy vay tiền in sẵn tên người cho vay là ông A, nhưng anh chị không biết ông A là ai. Anh chị đã trả cho bà D 2.050.000.000 đồng, và yêu cầu bà D trả lại giấy vay tiền nhưng bà D viện lý do không nhớ nên không đưa lại. Vì vậy, anh chị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà D trình bày:
Bà cho chị B, anh C vay ba lần: Lần 1 (ngày 15/12/2016): 150.000.000 đồng; lần 2 (ngày 26/12/2016): 1.500.000.000 đồng; lần 3 (ngày 03/02/2017): 400.000.000 đồng. Tổng cộng: 2.050.000.000 đồng. Chị B, anh C đã trả nợ cho bà đầy đủ. Việc ông A cho chị B, anh C vay tiền, bà không biết.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2017/DS-ST ngày 05 và 06/9/2017, Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A. Buộc vợ chồng chị B, anh C trả cho ông A nợ gốc 2.100.000.000 đồng, nợ lãi 211.500.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về việc thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 13/9/2017 và ngày 19/9/2017, bị đơn chị B, anh C kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 134/2017/DS-PT ngày 28/12/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng quyết định:
Không chấp nhận kháng cáo của chị B, anh C.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A. Buộc vợ chồng chị B, anh C trả cho ông A nợ gốc 2.100.000.000 đồng, nợ lãi 211.500.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn tuyên về án phí và việc thi hành án.
Ngày 22/01/2018, bị đơn chị B, anh C có đơn đề nghị xem xét bản án dân sự sơ thẩm và bản án dân sự phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.
Tại Quyết định Kháng nghị số 131/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 07/8/2018, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm nêu trên, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm lại.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Ủy ban Thẩm phán chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bị đơn chị B, anh C cho rằng có vay của bà D hai lần với số tiền 2.100.000.000 đồng. Anh chị có viết, ký tên vào giấy vay tiền in sẵn tên của người cho vay là ông A, không vay tiền của ông A; trong khi đó, giấy tờ vay do phía nguyên đơn cung cấp thể hiện sự trùng lặp về số tiền cho vay cũng như thời gian vay, không có chữ ký của người cho vay.
Quá trình giải quyết vụ án, ông A, bà D đều vắng mặt. Bị đơn trình bày số tiền 2.100.000.000 đồng do bà F trực tiếp vay của bà D, nhưng Tòa án không triệu tập, lấy lời khai của bà F để xác định đúng người tham gia tố tụng. Tòa án cấp sơ thẩm chưa tổ chức hòa giải (không lập biên bản hòa giải) khi không thuộc trường hợp không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được là vi phạm nguyên tắc tiến hành hòa giải quy định tại Điều 205 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; lời khai mâu thuẫn nhưng chưa tổ chức đối chất lời khai giữa ông A, bà D với vợ chồng chị B, anh C và bà F để làm rõ giữa các bên xác lập hai khoản vay hay một khoản vay làm căn cứ giải quyết đúng đắn vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 337 và Điều 343 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Chấp nhận Kháng nghị số 131/2018/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 07 tháng 8 năm 2018 của Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2017/DS-ST ngày 05 và 06/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 134/2017/DS-PT ngày 28/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng về vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn là ông A với bị đơn là chị B và anh C.
3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Chánh án TANDCC tại TP.HCM (để báo cáo); - VKSNDCC; - TAND tỉnh Lâm Đồng; - TAND thành phố Bảo Lộc; - Chi cục THADS thành phố Bảo Lộc; - Các đương sự (theo địa chỉ); - Lưu Phòng LTHS, HS, THS. (NL). | T/M ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Sáng |