- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Cô X.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 360/QĐ-TA | Sóc Trăng, ngày 08 tháng 11 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Trúc Phương.
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Thuận.
Ngày 08 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 239/QĐ-TA ngày 29 tháng 10 năm 2021 đối với:
Họ và tên: Cô X, tên gọi khác: không. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 01/7/1994.
Chứng minh nhân dân số 366214930. Cấp ngày ...../...../....... tại Công an Sóc Trăng.
Dân tộc: Khmer.
Tôn giáo: không.
Trình độ học vấn: 6/12.
Nguyên quán: Sóc Trăng.
Nơi đăng ký thường trú: Khóm M, Phường N, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng.
Chỗ ở: Chòi không số, kế bên nhà Khóm M, Phường N, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng.
Nghề nghiệp: không.
Tiền án: không; tiền sự: 01 lần.
Con ông Cô S và bà Lý Thị Sa M.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đặng Hoàng Kh, Chuyên viên phòng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (theo Giấy ủy quyền ngày 03/11/2021) (có mặt).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên họp: Bà Phạm Thúy Trang, Kiểm sát viên.
3. Những người khác tham gia phiên họp:
Công an phường N, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Vũ Tr cán bộ Công an Phường N, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (theo giấy ủy quyền ngày 07/11/2021) (vắng mặt).
NHẬN THẤY:
Tại bản tường trình của ông Cô X và các tài liệu trong hồ sơ thể hiện:
Vào ngày 07/5/2021 Cô X bị Ủy ban nhân dân Phường N, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định số 10/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn là 03 tháng, kể từ ngày 07/5/2021 đã chấp hành xong vào ngày 07/8/2021.
Đến ngày 30/9/2021 Công an Phường N mời Cô X lên làm việc và xét nghiệm chất ma túy thì Cô X dương tính với ma túy (loại Heroin), Công an Phường N tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính và đề nghị Trạm y tế Phường N xác định tình trạng nghiện ma túy. Theo Phiếu trả lời kết quả ngày 30/9/2021 của Trạm Y tế Phường N về tình trạng nghiện ma túy của Cô X, xác định Cô X có nghiện ma túy, loại ma túy MOR (Heroin).
Tại Bản tường trình ngày 30/9/2021 và Biên bản ghi lời khai vào lúc 08 giờ 50 phút ngày 30/9/2021 tại Công an Phường N, thành phố ST, Cô X thừa nhận: Cô X bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2016 cho đến nay, loại ma túy sử dụng là Heroin, hình thức sử dụng là chích, lần sử dụng gần nhất vào ngày 29/9/2021 tại chòi không số kế bên Khóm M, Phường N, thành phố ST.
Theo kết quả tra cứu tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật thuộc Sở Y tế tỉnh Sóc Trăng tại Công văn số 728/KSBT-AIDS ngày 01/10/2021 thì Cô X không có tham gia điều trị tại Cơ sở điều tra Methadone thuộc Khoa Phòng, chống HIV/AIDS Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Sóc Trăng.
Tại Đề nghị số 41/ĐN-UBP ngày 11/10/2021 của Ủy ban nhân dân Phường N, thành phố ST và Công văn số 418/CV-PLĐ ngày 26/10/2021 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố ST đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ cở cai nghiện bắt buộc đối với Cô X tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng.
Tại phiên họp:
Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố ST ông Đặng Hoàng Kh trình bày: Cô X là người đủ 18 tuổi và có nơi cư trú ổn định, là người nghiện ma túy đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, với hành vi trên căn cứ khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 1 của Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Cô X là 22 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng phát biểu ý kiến, nhận định quy trình lập hồ sơ, xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Cô X đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật, cân nhắc về nhân thân, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Cô X thời hạn 22 tháng.
XÉT THẤY:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của cơ quan đề nghị và ý kiến của Kiểm sát viên:
Người bị đề nghị Cô X đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên họp không lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo thủ tục chung.
Xét hồ sơ đề nghị đã được Công an Phường N, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng lập còn thời hiệu, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại các Điều 4, Điều 8, Điều 11 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ–CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013. Phòng Tư pháp thành phố Sóc Trăng có văn bản kiểm tra tính pháp lý hồ sơ và Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố ST có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc đối với Cô X là đúng trình tự thủ tục quy định tại các Điều 12, Điều 13 của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ–CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.
Căn cứ vào bản tường trình của Cô X ngày 30/9/2021; Phiếu trả lời kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế Phường N thành phố ST cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở để kết luận Cô X là người nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Heroin.
Cô X sinh năm 1994 là người đủ 18 tuổi trở lên, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 07/5/2021 của Ủy ban nhân dân Phường N, thành phố ST nay vẫn còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, căn cứ khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định: “1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định” thì Cô X thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Do vậy, đề nghị của Ủy ban nhân dân Phường N và Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố ST đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Cô X là phù hợp với quy định pháp luật.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính: Vào ngày 23/12/2019 Cô X bị Tòa án nhân dân thành phố ST ra Quyết định số 194/QĐ-TA ngày 23/12/2019 về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng đã chấp hành xong nhưng đến ngày vi phạm 29/9/2021 thì Cô X chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính nên lần vi phạm này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính: trong quá trình lập hồ sơ Cô X tự nguyện và thành thật khai báo hành vi sử dụng ma túy nên được xem xét tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét về thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Tại Bản tường trình ngày 29/9/2021, Cô X khai sử dụng ma túy từ năm 2015, loại ma túy sử dụng là Heroin, hình thức sử dụng là chích đã được đưa đi điều trị tại Cơ sở cai nghiện ma túy nhưng vẫn còn nghiện và tiếp tục sử dụng trái phép. Do vậy, xét về tình trạng nghiện ma túy, cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hành chính, nhân thân của Cô X thì thời hạn mà Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố ST và Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.
Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng là có căn cứ phù hợp quy định pháp luật nên được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, khoản 2 Điều 95; khoản 1 Điều 96, Điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 19, các Điều 22, 23, 30, 31, 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Cô X.
2. Thời hạn Cô X chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng kể từ ngày Cô X bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án; Thời hạn kiến nghị của cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp là 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng phối hợp với Công an thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đưa Cô X vào cơ sở cai nghiện bắt buộc buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: số 80, đường Hồ Nước Ngọt, khóm 2, phường N, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố ST; - Phòng Lao động TB &XH thành phố ST; - Người bị áp dụng; - Công an TP. Sóc Trăng; - Công an Phường N, thành phố ST; - UBND Phường N, thành phố ST; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng; - Lưu Tòa án thành phố ST; Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Trúc Phương |