vanban.org

Quyết định 36/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn L.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền kháng nghị Quyết… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn L"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn L.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÙNG KHÁNH
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 36/QĐ-TATrùng Khánh, ngày 14 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nông Thanh Lịch

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Hương Ly

Ngày 14 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh C tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 36/QĐ-TA ngày 06 tháng 11 năm 2022 đối với:

Nông Văn L; giới tính: Nam;

Sinh ngày 26 tháng 7 năm 1989;

Căn cước công dân số: 004089004578; Ngày cấp: 17/12/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý Hành chính về trật tự xã hội;

Dân tộc: Tày;

Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hóa: 01/12;

Nguyên quán, hộ khẩu thường trú, chỗ ở: xóm Đ, xã Đ1, huyện T, tỉnh C;

Nghề nghiệp: Trồng trọt;

Tiền án: Không; tiền sự: Không;

Con ông: Nông Văn T và bà Âu Thị B.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh C: Bà Ngôn Thị Liêm – Phó Trưởng phòng;

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh C: Ông Nguyễn Ngọc Tịch - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ, nhận thấy: Nông Văn L là đối tượng nghiện ma túy từ tháng 02 năm 2012. Trong Bản tự khai của Nông Văn L và Biên bản lấy lời khai của Công an xã Đ1, Nông Văn L khai nhận lần gần đây nhất Nông Văn L sử dụng trái phép chất ma túy là vào ngày 17-10-2022. Ngày 18-10-2022, Công an xã Đ1, huyện T có văn bản đề nghị Bệnh viện đa khoa huyện T, tỉnh C xác định tình trạng nghiện ma túy của Nông Văn L. Ngày 25-10-2022, Bệnh viện đa khoa huyện T đã xác định, kết luận Nông Văn L có nghiện ma túy. Sau khi có kết quả của Bệnh viện đa khoa huyện T xác định tình trạng nghiện ma túy, Nông Văn L không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên Ủy ban nhân dân xã Đ1, huyện T đã tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa Nông Văn L vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 01-11-2022, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T có văn bản Đề nghị số 174/ĐN-CNBB, đề nghị Tòa án nhân dân huyện T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn L với thời hạn 18 (Mười tám) tháng.

Tại phiên họp, đại diện cơ quan Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T giữ nguyên quan điểm, đề nghị nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên họp trình bày: Hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn L là phù hợp với các quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án nhân dân huyện T chấp nhận đề nghị của Phòng lao động

- Thương binh và Xã hội huyện T áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn L với thời hạn 18 (Mười tám) tháng.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn L của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T được lập đúng đối tượng, đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị cũng như thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính được quy định tại các Điều 6, 96, 103, 104, 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính, các Điều 40, 41, 42, 43 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Như vậy, đủ cơ sở để kết luận hồ sơ đề nghị đã lập là có căn cứ và hợp pháp. Toà án nhân dân huyện T thụ lý hồ sơ, quyết định mở phiên họp xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Nông Văn L là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.

Tại phiên họp Nông Văn L vắng mặt không có lý do chính đáng nên Tòa án vẫn tiến hành phiên họp theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Nông Văn L tuy trình độ văn hóa thấp nhưng là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nên hoàn toàn nhận thức được tác hại của chất ma túy và biết rõ sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng do nghiện ma túy nên Lân vẫn thực hiện hành vi vi phạm. Ngày 28-10-2022, Ủy ban nhân dân xã Đ1, huyện T đã lập biên bản vi phạm đối với Nông Văn L do Nông Văn L không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Do vậy, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn L là cần thiết, để Nông Văn L có đủ thời gian điều trị, được tiếp cận với các biện pháp y học nhằm hỗ trợ cai nghiện đạt hiệu quả. Việc đề nghị của cơ quan đề nghị đưa Lân vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc là đủ điều kiện, có căn cứ theo quy định tại các Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, các Điều 27, 28, 32 của Luật phòng chống ma túy nên cần chấp nhận.

Tuy nhiên, cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đối với người bị đề nghị: Nông Văn L không có tình tiết tăng nặng, bên cạnh đó tự nguyện khai báo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Do vậy, cần cho Nông Văn L được hưởng tình tiết giảm nhẹ này khi quyết định thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nông Văn L.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Người bị đề nghị Nông Văn L có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã Đ1, huyện T, tỉnh C và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh C có trách nhiệm thi hành quyết định này theo quy định tại Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Cỡ chữ