- Tranh chấp gì? "Bùi Vĩnh T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Bùi Vĩnh T.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 36/2018/QĐ-TA | Quận R, ngày 22 tháng 01 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Bà Đặng Diệu Linh
2. Thư ký ghi biên bản phiên họp: Ông Trần Minh Anh
Ngày 22 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2 tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, hồ sơ thụ lý số: 18/2018/TL-XLHC, ngày 17 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định mở phiên họp số 15/2018/QĐ-TA ngày 17 tháng 01 năm 2018 đối với:
Ông Bùi Vĩnh T
Giới tính: Nam
Sinh năm: 1985
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: Phật
Trình độ văn hóa: 05/12
Nguyên quán: Bà Rịa-Vũng Tàu
Hộ khẩu thường trú: Đường M, Phường Q, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định
Nhân thân: Ngày 13/11/2012, bị Công an Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh bắt. Ủy ban Nhân dân Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 24 tháng theo quyết định số 8793 ngày 23/11/2012.
Ngày 22/10/2015, bị Công an Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh bắt.
Con ông Bùi Văn D và bà Huỳnh Thị H
Đương sự có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Phạm Anh T1.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Hồng Phong – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 21/11/2017, Công an phường Q, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra đối tượng Bùi Vĩnh T, sinh năm 1985, tại Công an phường Q, Quận R có sử dụng trái phép chất ma túy. Đối tượng T thừa nhận có sử dụng chất ma túy( heroin) và có kết quả xét nghiệm nhanh nước tiểu dương tính với chất ma túy.
Căn cứ biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 21/11/2017 của Trạm Y tế phường Q xác định Ông T có sử dụng trái phép chất ma túy; và Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 25/11/2017 của Cơ Sở xã hội Thanh thiếu niên 2 kết luận Bùi Vĩnh T nghiện ma túy( heroin).
Qúa trình làm việc, ông Bùi Vĩnh T, Công an phường Q, Quận R; Ủy ban nhân dân phường Q, Quận R; Cơ quan đề nghị - Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận R đã tuân thủ các quy định của pháp luật, bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự.
Tại Công văn số 43/LĐTBXH ngày 12/01/2018 của Phòng Lao Động Thương Binh và Xã Hội Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Bùi Vĩnh T là người nghiện ma túy có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ông T nghiện ma túy từ năm 2001; hình thức và loại ma túy sử dụng: chích heroin.
Tại phiên họp, người bị đề nghị - Ông Bùi Vĩnh T trình bày: Từ năm 2001 ông đã nghiện ma túy, chưa tự cai nghiện tại gia đình hay cai nghiện tại cộng đồng; ngày 21/11/2017 ông bị tạm giữ là do có sử dụng ma túy, kết quả xét nghiệm dương tính với ma túy là hoàn toàn đúng, ông đã được đưa vào Cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2 và được tiến hành điều trị cắt cơn, giải độc, quá trình bị tạm giữ ông đã được tống đạt đầy đủ các quyết định mà Cơ quan đề nghị ra quyết định đối với ông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Qúa trình thụ lý hồ sơ, quá trình giải quyết và tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Thẩm phán tiến hành mở phiên họp đúng thời gian, địa điểm thành phần đã được ghi trong quyết định mở phiên họp, đảm bảo đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật; Đối với đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng theo quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh đối với ông Bùi Vĩnh T.
XÉT THẤY:
Qua nghiên cứu hồ sơ, xét thấy về trình tự thủ tục, cơ quan đề nghị đã thực hiện đúng quy định tại Điều 95, 96; điểm b khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, có đủ cơ sở để xác định ông Bùi Vĩnh T, sinh năm 1985 là đối tượng nghiện ma túy, tự khai có từng nghiện ma túy đá từ năm năm 2001( căn cứ vào Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 25/11/2017 của Cơ Sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2 kết luận Bùi Vĩnh T nghiện ma túy, hiện tại Ông T không có nơi cư trú nhất định đúng như Công an phường Q, Quận R đã xác minh, không có nghề nghiệp ổn định. Đề nghị của Phòng Lao Động Thương Binh và Xã hội Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ.
Về nhân thân, ông Bùi Vĩnh T có nhân thân xấu; bản thân là đối tượng nghiện, thời gian nghiện từ năm 2001 đến nay. Hành vi sử dụng ma túy của ông Bùi Vĩnh T là nguy hiểm cho xã hội, có ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, kinh tế tài chính của bản thân Ông T; đồng thời làm tha hóa đạo đức lối sống của nhiều thanh niên, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, nó không chỉ huỷ hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân lây lan, phát triển căn bệnh HIV-AIDS, mà còn là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ông T một thời gian nhất định để chữa bệnh, phục hồi sức khỏe. Mặt khác, tạo điều kiện để cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Bùi Vĩnh T.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy Đức Hạnh là 20 (hai mươi) tháng. Thời hạn thi hành được tính từ ngày 21/11/2017 cho đến khi thi hành xong quyết định này.
3. Người bị áp dụng có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 có quyền kháng nghị quyết định này trong hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh; Cơ sở xã hội Thanh thiếu niên 2; Cơ sở cai nghiện ma túy Đức Hạnh; Công an Quận R; cơ quan tổ chức có liên quan và ông Bùi Vĩnh T có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM - VKSND Q1; - CA Q.R; - Phòng LĐTB&XH Q.R; - UBND P. Q, Q.R; - CSCNMT Đức Hạnh; - CSXH Thanh thiếu niên 2; - Người bị đề nghị; - Lưu, VP. | THẨM PHÁN Đặng Diệu Linh |