- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa ông T và bà D"
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
N N N N
N
N
N M
N
- d - nh h
T NH B N T Số: 358/2019/QĐST-HNGĐ
h á h, ngày 07 tháng 10 năm 2019
QU Ế ỊN
ÔN N ẬN
ẬN ÌN
ÔN
À SỰ OẢ
ẬN
ƯƠN SỰ
- Căn cứ vào hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số: 315/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2019 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, giữa:
* Nguyên đơn: Ông ê Quố T - Sinh năm: 1984; địa chỉ: ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.
* Bị đơn: Bà Nguyễn hị Kiều D - Sinh năm: 1993; địa chỉ: ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 55, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 27 tháng 9 năm 2019.
:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 27 tháng 9 năm 2019 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
Q Ế ỊN :
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Lê Quốc T và bà Nguyễn Thị Kiều D.
2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
* V việ ấp dưỡng giữa v hồng khi ly hôn: Ông Lê Quốc T và bà Nguyễn Thị Kiều D không yêu cầu Tòa án giải quyết gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
* V on hung và việ ấp dưỡng nuôi on: Bà Nguyễn Thị Kiều D được quyền nuôi người con chung giữa bà và ông Lê Quốc T là cháu Lê Nguyễn Quốc A - sinh ngày 21/10/2015 (hiện đang sống chung với ông T và bà D). Bà Nguyễn Thị Kiều D không yêu cầu ông Lê Quốc T cấp dưỡng nuôi con.
- Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở họ thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
- Vì lợi ích của con chung, ông Lê Quốc T và bà Nguyễn Thị Kiều D hoặc các nhân, tổ chức theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi có lý do chính đáng, ông Lê Quốc T và bà Nguyễn Thị Kiều D có quyền thỏa thuận giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
* V tài sản chung, n hung: ông Lê Quốc T và bà Nguyễn Thị Kiều D cùng xác định không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
* V án phí: Ông Lê Quốc T nhận chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 150.000đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004534 ngày 10 tháng 9 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Ông Lê Quốc T được hoàn trả lại số tiền chênh lệch là 150.000đồng.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSN huyện Chợ Lách; - Chi cục T.H.A dân sự huyện Chợ Lách; - UBN xã nơi ĐKKH; - Phòng KTNV-T.H.A TAN tỉnh Bến Tre; - Lưu: hồ sơ vụ án, Vp, Bp. | M N h m hị hu Thanh |