- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "V/v yêu cầu tuyên bố một người một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trần Thị T:
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 350/2021/QĐST-DS | Hóc Môn, ngày 23 tháng 11 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trịnh Hồng Hải.
Thư ký phiên họp: Ông Lê Bá Hùng Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Hồ Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 74/2021/TLST-DS ngày 23 tháng 3 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 208/2021/QĐST-VDS ngày 15 tháng 11 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị T, sinh năm 1972. (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp NT, xã TTN, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1949. (có đơn xin vắng mặt)
2. Bà Trần Thị Ngọc D, sinh năm 1981. (có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp NT, xã TTN, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI D VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 05/3/2021 và trong quá trình giải quyết, người yêu cầu bà Trần Thị T trình bày:
Bà Trần Thị T là con đẻ của ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M. Từ tháng 3/2018 cho đến nay, ông T đã bỏ nhà đi khỏi địa phương, không còn liên lạc với gia đình. Sau khi ông T bỏ đi, bà T cùng gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không thể biết và liên lạc được với ông T.
Nay bà Trần Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Văn T, sinh năm 1945; nơi đăng ký thường trú và cư trú cuối cùng: ấp NT, xã TTN, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh bị mất tích để gia đình làm thủ tục xin cấp lại giấy tờ nhà đất.
Theo bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M trình bày:
Bà Nguyễn Thị M là vợ của ông Trần Văn T. Bà Nguyễn Thị M thống nhất với yêu cầu của bà Trần Thị T, đề nghị Tòa án tuyên bố ông Trần Văn T bị mất tích.
Theo bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Ngọc D trình bày:
Bà Trần Thị Ngọc D là con đẻ của ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M. Bà Trần Thị Ngọc D thống nhất với yêu cầu của bà Trần Thị T, đề nghị Tòa án tuyên bố ông Trần Văn T bị mất tích.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ việc và trong quá trình giải quyết, Thẩm phán, Thư ký được phân công giải quyết, người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ việc đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
“Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có nơi cư trú cuối cùng tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, nên yêu cầu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Trần Thị T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M và bà Trần Thị Ngọc D có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt, nên Tòa án vẫn tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội D: Xét yêu cầu của đương sự.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện bà Trần Thị T là con đẻ của ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M, nên bà T có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Văn T mất tích theo quy định tại Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo nội dung trình bày của bà Trần Thị T tại đơn xin xác nhận ngày 04/3/2021 và đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 05/3/2021 thì ông Trần Văn T, sinh năm 1945; nơi đăng ký thường trú: ấp NT, xã TTN, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã bỏ nhà đi khỏi địa phương, không còn liên lạc với gia đình từ tháng 3/2018. Bà T cùng gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng vẫn không có tin tức của ông T. Do cần làm thủ tục xin cấp lại giấy tờ nhà đất, nên bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T mất tích.
Quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án đã ra Quyết định số: 02/2021/QĐ-TA ngày 07 tháng 5 năm 2021 về việc Tg báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Trần Văn T. Quyết định trên đã được đăng, phát sóng trên Báo Pháp luật Việt Nam ba số liên tiếp 132, 133, 134 vào các ngày 12, 13, 14/5/2021; Đài Tiếng nói Việt Nam vào các ngày 17, 18, 19/5/2021; Cổng Tg tin điện tử Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Cổng Tg tin điện tử Tòa án nhân dân Tối cao.
Tuy nhiên, đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát sóng Thông báo lần đầu tiên nhưng đến nay vẫn không có tin tức xác thực về việc ông Trần Văn T còn sống hay đã chết. Tại Biên bản xác minh ngày 22/11/2021 của Công an xã TTN, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận: Ông Trần Văn T, sinh năm 1945 đã bỏ địa phương đi từ năm 2018 đến nay, không rõ làm gì, hiện ở đâu. Do đó, yêu cầu của bà Trần Thị T về việc tuyên bố ông Trần Văn T mất tích là có căn cứ, nên được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4] Về lệ phí: Bà Trần Thị T là người yêu cầu giải quyết việc dân sự nên phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trần Thị T:
Tuyên bố ông Trần Văn T, sinh năm 1945; nơi đăng ký thường trú và cư trú cuối cùng: ấp NT, xã TTN, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích.
- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng bà Trần Thị T phải chịu, nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2019/0074713 ngày 23 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thị T đã nộp đủ lệ phí.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được Thông báo, niêm yết.
Quyết định này có thể bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND huyện Hóc Môn; - Chi cục THA DS huyện Hóc Môn; - UBND xã TTN, huyện Hóc Môn; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trịnh Hồng Hải |