- Tranh chấp gì? "Huỳnh Văn S"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với anh Huỳnh Văn S.
- Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI ————— Số: 35/QĐ-TA | Xuân Lộc, ngày 28 tháng 01 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA- TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Triều Châu
2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Tuấn- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 28 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Khu xã hội thuộc Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 08/QĐ-TA ngày 20 tháng 01 năm 2021 đối với:
Họ và tên: Huỳnh Văn S, sinh năm 1990. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 8/12; Nơi đăng ký HKTT: K4/62A, khu phố 5, phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở: Không ổn định. Nghề nghiệp: Không. Con ông Huỳnh Văn Q và bà Lâm Lệ H; Tiền án: Không; Tiền sự: Không (Có mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Phan Thị Liễu - Chuyên viên Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai: Ông Trương Tùng Sơn - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai tại Công an phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai vào ngày 13/11/2020, Huỳnh Văn S thừa nhận đã sử dụng chất ma túy từ năm 2010 đến nay và lần sử dụng ma túy gần đây nhất vào ngày 12/11/2020 tại địa bàn phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa. Anh S cũng thừa nhận không có nơi ở ổn định.
Theo biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 13/11/2020 và tại phiếu trả lời kết quả của Bác sỹ- Trưởng Trạm y tế phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa về việc xác định tình trạng nghiện ma túy đã xác định: anh S có nghiện ma túy, loại Methamphetamine. Ngày 13/11/2020, Công an phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với anh S về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại biên bản xác minh tình trạng cư trú của Công an phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa vào 13 tháng 11năm 2020 thì anh S có đăng ký thường trú tại K4/62A, khu phố 5, phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nhưng thường xuyên vắng mặt tại địa phương và không xác định được nơi ở cố định hiện nay của anh Sơn.
Chủ tịch UBND phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa có Văn bản số 96/QĐ-UBND ngày 13/11/2020 về việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S. Ngày 15/01/2021, Trưởng phòng Tư pháp thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai có văn bản số 18/PTP về việc kiểm tra tính pháp lý hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Huỳnh Văn S. Ngày 18/01/2021, Trưởng phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thành phố Biên Hòa có công văn số 29/LĐTB&XH đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S.
Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đã xác định: anh S có nghiện ma túy loại Methamphetamine.
Tại phiên họp, anh S thừa nhận đã sử dụng chất ma túy từ năm 2010 và lần sử dụng ma túy gần đây nhất là vào ngày 12/11/2020, tại địa bàn phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Đại diện Phòng lao động- Thương binh và Xã hội thành phố Biên Hòa giữ nguyên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với anh S. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng lao động- Thương binh và Xã hội thành phố Biên Hòa.
XÉT THẤY:
Về căn cứ, đối tượng áp dụng: Anh Huỳnh Văn S là người trên 18 tuổi, đang nghiện ma túy và không có nơi cư trú ổn định. Căn cứ vào Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ) thì đây là đối tượng cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Ngày 12/11/2020, anh S sử dụng trái phép chất ma túy, sau đó bị công an phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa phát hiện và lập biên bản về vi phạm hành chính. Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Điều 9 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/ 12/ 2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì trường hợp này hiện đang trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đã được thực hiện theo đúng quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ); Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA ngày 09 tháng 07 năm 2015 của Bộ Y tế, Bộ Lao động- Thương binh và xã hội, Bộ Công an; Thông tư số 05/2018/TT-BCA ngày 07 tháng 02 năm 2018 của Bộ Công an.
Như vậy, việc Phòng lao động- Thương binh và Xã hội thành phố Biên Hòa đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh S là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai đối với anh Huỳnh Văn S.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 13/11/2020.
3. Anh Huỳnh Văn S có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Biên Hòa có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (28/01/2021).
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Biên Hòa và Công an thành phố Biên Hòa có trách nhiệm phối hợp thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Trưởng Phòng LĐ-TB&XH; - Trưởng Công an thành phố Biên Hòa; - Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh ĐN; - VKSND thành phố Biên Hòa; - UBND phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa. - Lưu: VT, hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Triều Châu |