- Tranh chấp gì? "Bùi Xuân H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Bùi Xuân H, Tên gọi khác: không có; sinh năm 1984iềnHiHuyee tại tỉnh Bến Tre; Căn cước công dân: 075084017265; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không có; Trình độ văn hóa: 09/12; nơi cư trú:…
- Căn cứ chính? Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN ND TP BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 35/QĐ-TA | Thành phố Bến Tre, ngày 14 tháng 5 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có: Thẩm phán: Ông Ngô Văn T Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Vương
Ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 35/QĐ-TA ngày 07 tháng 5 năm 2025 đối với:
Họ và tên: Bùi Xuân H, T1 gọi khác: không có;
Sinh năm 1984 tại tỉnh Bến Tre;
Căn cước công dân: 075084017265;
Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không có;
Trình độ văn hóa: 09/12;
Nơi cư trú: số B, khu phố B, phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre;
Con ông Bùi T2 (đã chết) và bà Đặng Thị Ngọc H1.
Nhân thân:
- Ngày 03/7/2003, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố B) xử phạt 01 năm 3 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 31/2003/HS-ST);
- Ngày 13/6/2024 bị Trưởng Công an P1 xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (QĐ số 15/QĐ-XPHC).
Anh Bùi Xuân H vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
- Người đề nghị: Trưởng Công an P1, thành phố B – Ông Nguyễn Minh P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre: Bà Lư Ngọc Thiên An - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc, hành vi vi phạm của anh Bùi Xuân H được tóm tắt như sau:
Anh H là người nghiện ma túy, đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình theo Quyết định số 97/QĐ-UBND ngày 06/02/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố B thời gian kể từ ngày 06/02/2025 đến ngày 06/02/2027.
Ngày 21/4/2025, Công an P1, tỉnh Bến Tre tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với anh H thì anh H dương tính với ma túy. Anh H thừa nhận ngày 19/4/2025 anh có sử dụng ma túy nên Công an Phường 6 lập Biên bản vi phạm hành chính số 12/BB-VPHC ngày 21/4/2025. Theo phiếu kết quả xác định tình trạng ma túy ngày 23/4/2025 của Trạm Y tế P2, thành phố B, tỉnh Bến Tre thì anh H nghiện ma túy loại Methamphetamine nên Ủy ban nhân dân Phường F lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 13/BB-VPHC ngày 21/4/2025 và Công an P1 tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh H.
Tại phiên họp:
Người đề nghị có ý kiến: Anh H là người nghiện ma túy, đang trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình nhưng lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên việc cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H với thời hạn là 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Công an tỉnh B.
Kiểm sát viên tham gia phiên họp xác định: Quá trình thụ lý hồ sơ và tại phiên họp, những người tiến hành phiên họp đã tuân thủ và thực hiện đúng các trình tự, thủ tục theo luật định. Hồ sơ đã được lập đúng theo trình tự, thủ tục theo luật định, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H theo đề nghị của người đề nghị với thời hạn 18 tháng.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ và ý kiến của những người tham gia phiên họp,
XÉT THẤY:
Tại phiên họp, anh H đã được Tòa án triệu tập đúng quy định nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng nên căn cứ vào khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Điều 1 Nghị Quyết số 04 ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt đối với anh H là phù hợp.
Anh H được xác định là người nghiện ma túy, đang trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình nhưng lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên Ủy ban nhân dân Phường F lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 13/BB-VPHC ngày 21/4/2025 đối với anh H và Công an P1 lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh H là phù hợp.
Anh H là người trên 18 tuổi, đang trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình nhưng lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020 và khoản 2 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Do đó, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H đã được các cơ quan có thẩm quyền lập đúng và đầy đủ theo trình tự pháp luật quy định và đề nghị của Trưởng Công an P1, tỉnh Bến Tre là có cơ sở.
Anh H biết rõ chất ma túy là chất độc hại, việc sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của anh H đã xâm phạm đến chủ trương chính sách của Nhà nước về bài trừ tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn khu dân cư. Do đó, việc bắt buộc cai nghiện đối với anh H là cần thiết.
Xét nhân thân và mức độ nghiện của anh H thấy rằng mức thời gian cai nghiện mà Trưởng Công an Phường 6, tỉnh Bến Tre, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đề nghị là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Bùi Xuân H, Tên gọi khác: không có; sinh năm 1984iềnHiHuyee tại tỉnh Bến Tre; Căn cước công dân: 075084017265; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không có; Trình độ văn hóa: 09/12; nơi cư trú: số B, khu phố B, phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre; Con ông Bùi T2 (đã chết) và bà Đặng Thị Ngọc H1.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Anh Bùi Xuân H được quyền khiếu nại được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày được tống đạt Quyết định; Trưởng Công an P1, thành phố B, tỉnh Bến Tre được quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre được quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định này.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an P1, thành phố B, tỉnh Bến Tre và Cơ sở cai nghiện ma túy – Công an tỉnh B có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - Phòng kiểm tra nghiệp vụ TA tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND thành phố Bến Tre (1b); - Trưởng Công an P. 6, tỉnh Bến Tre (1b); - Cơ sở CNMT Công an T.Bến Tre (1b); - Người bị áp dụng (1b); - Lưu VP, hồ sơ (2b). | THẨM PHÁN Ngô Văn Trình |